VÀ MỖI LẦN NOEL ĐẾN

VÀ MỖI LẦN NOEL ĐẾN         


          Cứ cuối tháng 11, đầu tháng 12, cái lạnh bắt đầu thấm trên từng cây lá, thấm vào những bàn tay, vào những nụ cười, tôi nghe được cái lạnh qua lời nói của mọi người: “Gần đến Noel rồi!”. Và tôi nghĩ về mùa Giáng Sinh với những cây thông gắn những món quà xinh xắn, nghĩ về truyện “Cô bé bán diêm” của Andersen. Tôi cảm thấy mình còn may mắn được sống trong sự đủ dùng như theo lời nguyện của người Kitô trước những bữa ăn. Dẫu tôi không theo đạo nào, nhưng tôi vẫn tin có Đại Ngã vô thường tồn tại cùng Tiểu Ngã của tôi.

          Nhớ năm học 1973 – 1974, tôi học lớp 12B3 trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tôi được học triết do thầy Huấn dạy. Dù tôi học ban B, thế nhưng cũng nhờ những khái niệm cơ bản về triết học, tôi nhìn nhận sự vật không chỉ duy tâm hoặc duy vật, duy lý hoặc duy tình. Môn triết là môn có thể là sở trường của tôi. Có lần, trong một giờ học, tôi đã giơ tay trình bày quan điểm non nớt, ngây ngô của mình: “Thưa thầy, theo lý thuyết thì bất cứ vật chất nào cũng bị nóng chảy ở nhiệt độ cao. Thế nhưng, mặt trời cũng là dạng vật chất, nóng đến hàng ngàn độ, nhưng sao nó chỉ có nóng mà không chảy?”. Tôi nhớ thầy không trả lời cụ thể, mà chỉ gợi cho tôi thấy rằng lý luận chỉ là lý luận. Cả thế giới vật chất này không chỉ có vật chất thuần tuý mà còn có sức mạnh vạn năng nào đó đang điều hành cả vũ trụ này. Lời thầy chỉ thoáng khơi gợi một điều gì đó trong tôi…

          Và mỗi lần Noel đến, tôi đều tự hỏi: Sao nhạc thánh có sức mạnh lôi cuốn, nhẹ nhàng, thánh khiết như vậy? Sao tiếng chuông nhà thờ làm rung chuyển sự tỉnh thức của mỗi tâm hồn đến vậy? Sao lời của Chúa hơn hai ngàn năm vẫn là sự thật? Tôi có dịp may là đọc những lời trong Kinh thánh, nhất là phần Tân ước. Sao Chúa yêu thương con người đến vậy, trong khi con người nhân danh con người lại mạt sát, bắt bớ, cầm tù, đâm chém, hành hạ lẫn nhau? Sao Chúa bao dung đến vậy, trong khi con người vẫn nuôi thù hận triền miên? Sao Chúa lại chữa lành những vết thương của người bệnh, trong khi con người gieo rắt những mầm diệt chủng, diệt sự sống ở trần gian này? Chúa vì ai mà yêu thương, bao dung, chữa lành con người? Vì ai? Vì ai?...

          Nghĩ đến Chúa, tôi lại nghĩ đến Darwin. Theo Darwin thì có thể thuỷ tổ của loài người là loài vượn – người. Nhưng mấy có ai, kể cả ông Darwin thờ vượn – người và gọi nó là ông tổ? Đã là thuyết thì mãi là thuyết! Có ai cho mình là giòng giống thấp hèn? Có ai cho mình là người dại? Có ai vẽ hình tượng vượn – người để thờ phụng đâu? Kiến thức của tôi có hạn, như cái sống có hạn của tôi ở cõi trần này, tôi không biết có tôn giáo nào, tín ngưỡng nào thờ vượn – người và tôn vinh nó không?

          Và mỗi lần Noel đến, tôi như thuộc lòng câu “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (có nơi cho là người thiện lương). Ngẫm đi ngẫm lại lời ca ấy sao thực tình, thực tế, gần gũi với con người đến vậy. Chỉ cần câu “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là thấy sướng cả bụng rồi! Cầu mong cuộc đời này, người thiện tâm được an bình là quý rồi. Nhưng cuộc đời này, chính con người đã gây ra bao tai hoạ, đã tự trút những cơn thịnh nộ của tham sân si thì làm gì có sự an bình cho chính mình và cho người khác. Thật là buồn! Buồn cho kiếp người không có bình an vì trót gây tội.

          Nói đến tội, tôi cũng là kẻ có tội ở trần gian này. Thấy cha mẹ già yếu mà không được chăm nom, phụng dưỡng hằng ngày là có tội. Thấy anh em nghèo khó mà không giúp được, vì mình chưa giúp được mình xong, cũng là tội. Thấy mình vì tiền mà chèn ép học trò đi học thêm để mình tồn tại cũng là có tội. Thấy học trò không chăm học, không học giỏi, cũng thấy mình có tội. Thấy con cái khổ cực mà chẳng giúp được, thấy con cái lớn rồi mà chẳng có công ăn việc làm ổn định, cũng là tội. Thấy việc phải mà không dám làm vì hèn, vì sợ cũng là tội. Cái tội nó đeo đuổi mình suốt kiếp.

          Biết bao cái tội của kiếp làm người. Nhiều lần, tôi làm điều gì sai trái, tôi cảm thấy mình cớ sao dại những một giờ như vậy? Cớ sao có lúc giận hờn? Cố chấp? Biết bao điều để tôi trở thành kẻ có tội ở thế gian này. Tôi lấy làm xấu hổ, ân hận vì những gì tôi gây nên tội. Bất chợt, trong tôi hiện lên bao gương mặt của những cô gái bán dâm nuôi miệng, đang lấy hai tay che mặt khi có người chụp ảnh, quay phim. Chắc các cô còn xấu hổ. Tôi cũng bất chợt thấy bao gương mặt của những kẻ có quyền, có thế khi gây nên tội vẫn nhơn nhơn cười đểu, lẻo mép chối tội như thách đố với người thiện tâm. Những việc ấy, những con người ấy, báo chí đăng trên những bản tin hằng ngày bên cạnh những tin tốt lành. Tin ác, tin dữ còn, tội đó do ai?

          Và Noel đến, bên tai tôi vẳng lên khúc nhạc mừng Thiên Chúa xuống trần, làm người để chịu kiếp người ở thế gian. Tôi như thấy cái chết của Thiên Chúa trong thân phận người mới làm cho con người đến với ánh sáng, đến với sự bình an. Và khúc nhạc “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” cứ vang lên trong lòng tôi, như vỗ về tôi, an ủi tôi những lúc tưởng như tôi bị sa ngã bởi bao ràng buộc ở cõi trần này.

          Trong tôi cũng vẳng lên lời bài hát như tránh móc, dỗi hờn của Trịnh Công Sơn: Chúa đã bỏ loài người – Phật đã bỏ loài người… Thế nhưng, mỗi lần Noel đến, tôi nhẩm hát theo những ca khúc Giáng Sinh. Tôi hát mà tin rằng Chúa Phật chẳng bỏ loài người. Chúa Phật vì loài người mà đến với thế gian này, đến để người bình an, để người được làm người thiện tâm, an bình dưới thế.

NGU NGƠ MỪNG CHÚA GIÁNG TRẦN

NGU NGƠ MỪNG CHÚA GIÁNG TRẦN

 

          Nhiều lần tôi tự hỏi tôi là ai, từ đâu đến và sẽ về đâu. Hỏi mà chẳng thể trả lời cho thỏa đáng. Quả là hỏi ngu ngơ và trả lời ngu ngơ. Lòng tôi ngổn ngang cho kiếp người trần thế.

          Tôi chào đời trong tiếng khóc của chính mình. Có lẽ trong cõi vô minh tôi khóc cho thân phận của mình, của con người cụ thể ở thế gian. Bởi ngày tôi chào đời là ngày tôi dấn thân vào cõi chết.

          Cõi chết của những thức ăn được chế biến trôi từ miệng xuống hậu môn, hoặc từ miệng chưa kịp nuốt lại nôn ra. Cõi chết của tiếng cười, tiếng khóc, tiếng rên. Cõi chết của tiếng nói chữ viết, của lời kinh, của tri thức.

         Tôi chào đời nghĩa là tôi đang đi vào cõi chết. Cõi chết của những con thiêu than, của chồi nõn đón mùa xuân. Cõi chết của nụ hôn vội vàng mùa hạn, mùa bão giông. Cõi chết của những nghĩ suy ngu ngơ, của những nghĩ suy của Socrates, Plato, của những vú mông Bao Tự, Tây Thi, Thẩm Thúy Hằng, Lisa, Emilie Nereng, của những đạo đức thuyết giảng về thế giới đại đồng của tôn giáo, của chủ thuyết vô sản, về thuyết tương đối tổng quát của Einstein ...

          Tôi từ cõi chết đầu thai thở hơi thở của con người trần thế. Con người được Thích Ca chỉ theo hướng vầng trăng, vầng trăng khi mờ khi tỏ, vầng trăng của mồng một, đêm rằm; con người được Jesus gánh mọi tội lỗi, được cứu rỗi - con người được ân phước của ngày sau rốt.

          Tôi từ cõi chết trở về thấy mọi thứ trên cõi đời này chẳng là chi cả ngoài vòng quay luân hồi của vũ trụ, mọi thứ chỉ là thứ chi chi để rồi tôi phải chi chi cùng đời.

          Tôi từ cõi sống đi vào cõi chết. Từ cõi chết trở lại làm người. Và tôi mong được làm người đúng nghĩa.

          Tôi xin cảm ơn đất trời, cảm ơn giọt máu hoài thai của mẹ, cảm ơn linh khí của cha cho tôi thành người.

          Tôi sống để thấy là đang đi dần vào cõi chết. Và cõi chết là cõi sống của tôi ở tương lai. Và thời điểm nào đó, từ cõi chết tôi được sống lại, được thấy hào quang của ngày Chúa tái lâm, của ngày Di Lặc giáng thế.

          Ngày vui của nhân loại khi ngôi Hai xuống trần gánh tội lỗi của thế gian. Nhân loại từ cõi chết trở về cõi sống khi máu của Jesus rửa tội cho con người. Vui thay khi mọi người từ cõi chết trở về cõi sống. Vui thay khi tôi từ cõi chết, cõi vô minh trở về làm người trong hồng ân của Tạo Hóa.

          Dẫu biết ngày tôi chào đời là ngày tôi đi đến cõi chết. Nhưng tôi vẫn mừng vui vì lẽ sinh tử, tử sinh, Tôi nguyện cầu mừng vui vì bè bạn, anh em, người thân yêu được bình an dưới thế.

          Tôi đang tư duy nghĩa là tôi đang tồn tại như Renè Descartes đã từng nghĩ. Dẫu tôi đang nghĩ về cái chết nhưng không có nghĩa là tôi đang chết. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ chết nhưng có thể đó là thời điểm linh hồn tôi bắt đầu sống. Rõ là tôi ngu ngơ trong vòng tử sinh sinh tử vô thường của Tạo Hóa.

          Ngu ngơ trong những ngày chuẩn bị đón tin lành mừng Chúa giáng sinh để rồi vác thập tự gánh mọi tội lỗi của con người ở thế gian, trong đó có tôi.

          Nhiều lần, rất nhiều lần, tôi thuộc lòng câu nói nói của Chúa Jesus: Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha (Giăng 14:6). Biết là vậy, nhưng lòng tôi vẫn cứ phân vân bởi nghĩ suy ngu ngơ của chất người trần thế. Vẫn cứ nghĩ rằng cái vừa chết là sự sống bắt đầu.

          Thôi thì tự an ủi mình. Tôi đang sống đây nghĩa là tôi đang đi dần đến cõi chết. Và khi vào cõi chết, sự sống của tôi lại bắt đầu...

ÁO TRẮNG TRONG TÔI

ÁO TRẮNG TRONG TÔI

 

          Câu văn cũ có níu được thời gian để cho tôi tìm dòng sông Hàn vấn vương sắc trời cổ tích. Bến phà xưa đâu có còn để vương hương tóc Hà Thân trên con đường em đi học, để tôi tìm dấu chân ai trên cát vàng Đông Giang của tuổi học trò ngu ngơ một thuở.

          Tháng giao mùa cuối hạ đầu thu cho tôi tìm lại tháng ngày đi học. Tháng những ngày vui của tuổi học trò xếp lại theo những cánh phượng hồng chở những nhớ nhung, chở những mối tình câm thời áo trắng, để những bài thơ, câu hát đọng lại bên đời thành ký ức một thuở mộng mơ.

          Tôi như thấy tôi thuở nọ ngu ngơ. Tôi tìm thấy tôi một thuở dại khờ. Dại khờ quên trước, quên sau, quên mở đầu sao cho suôn sẻ. Tôi chỉ ấp úng chẳng nói thành lời. Để rồi đến tận bây giờ mới liều mình mở miệng. Mà mở miệng để làm gì khi chẳng hát được câu hát nào, mở miệng để làm gì khi chỉ thầm hát theo câu hát cũ: “Tóc mai sợi vắn sợi dài/ Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Rồi tôi thầm nghĩ ngàn năm sau em và tôi có gặp lại đâu để mà thương, để mà thấy mặt nhau, để mà trách cứ nhau, hoặc nghĩ về nhau cho lòng đủ ấm.

          Và tôi cũng ấm lòng khi biết em biết được tình tôi. Cũng an ủi cho tôi, một kẻ đến giờ vẫn cứ nghĩ về em, về những ngày học chung lớp. Những ngày chung lớp ấy, tôi làm sao quên được những lần em hát. Bài hát ngày xưa tôi không nhớ tên. Chỉ biết rằng khi em từ nước Mỹ trở về, em tặng tôi một dĩa CD có tiếng hát ấm giọng Nha Trang của em. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần. Trong tôi cứ vang lên lời ca “Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi”... Lời ca ấy là lời của lòng tôi em có biết?

          Lời ca ấy em hát và tôi nhẩm hát theo. Hát theo bao lần theo mùa, theo năm tháng. Mấy mùa học, mấy mùa thi, mấy mùa tựu trường trở thành dĩ vãng. Bao năm tháng tôi đi trên những chuyến phà qua lại sông Hàn, bao con đường có những tà áo dài trắng tinh khôi, bao con đường học trò cho tôi khôn lớn. Bao con đường tôi qua, bao kỷ niệm hoá thành gió, thành mây, thành nắng, thành mưa. Kỷ niệm trong tôi hoá già để em vẫn mãi tinh khôi thuở nọ. Và tôi cũng hoá già nhưng em mãi trẻ trong tôi.

          Em vẫn là em, áo trắng ngây thơ của một thời Đông Giang. Và em vẫn là em khi về lại trường xưa mang tên Hoàng Hoa Thám.

          Biết bao buồn vui trên đường đời tôi gặp, nhưng tôi không thể nào quên được những buồn vui của thuở học trò.

          Có khi tôi ngang qua trường cũ. Ánh mắt của ai ngày xưa thấp thoáng đâu đây. Và tôi như thấy những ánh mắt sáng và hiền trong tà áo trắng hôm nay. Vẫn như tôi và em thuở nọ, tiếng cười tuổi học trò vẫn trong trẻo dưới nắng vàng, vẫn khúc khích làm duyên trong giờ ra chơi, vẫn làm xao xuyến những cậu con trai vừa lớn.

          Như tôi và em thuở nọ, những ánh mắt hôm nay vẫn mở to chăm chú nghe lời thầy cô giảng dạy; vẫn khám phá cuộc đời ngoài vở sách, khao khát tương lai của tuổi học trò.

          Như tôi và em thuở ấy, những học trò hôm nay cũng có những lần thuyết trình văn học, những đợt hùng biện tiếng Anh, những cuộc thi học sinh giỏi, tham gia làm bích báo, diễn văn nghệ, cắm trại, dã ngoại... Chắc những thứ đó sẽ là những ký ức đẹp về một thời đi học thuở thư sinh.

          Như tôi và em thuở nọ, những con tim hôm nay vẫn đầy yêu thương trân quý bè bạn, thầy cô. Vẫn nhiệt huyết tràn đầy, miệng hát bài ca tuổi học trò mộng đẹp. Vẫn như tôi và em, và có lẽ hơn cả tôi và em, là thế hệ học trò hôm nay giỏi hơn chúng mình ngày ấy.

          Và tôi tin một điều là bao thế hệ học sinh của trường Đông Giang thuở ấy và Hoàng Hoa Thám ngày nay cũng như ngày mai cùng niềm tin yêu và khát vọng như nhau.

          Tôi như thấy mình là cậu học trò ngập ngừng bước vào trường năm học 1967- 1968. Và giờ, trong tôi rộn tiếng cười ngày hội ngộ. Tôi thấy cả một trời Đông Giang - Hoàng Hoa Thám đầy ắp tiếng nói, tiếng cười của bao thế hệ học sinh, của bao thầy cô giáo.

          Trước mắt tôi và trong tôi là ngôi trường tôi đã từng học. Ngôi trường một thời cho tôi biết bao thương nhớ. Ngôi trường đã cho tôi và biết bao thế hệ học sinh nên người.

          Trước mắt tôi là dáng hình của thầy cô giáo ngày nay, ngày xưa…

          Trước mắt tôi là những tà áo trắng. Áo trắng ngày nay. Áo trắng ngày xưa…

 

NHỮNG GÌ CÒN NHỚ TRONG TÔI

NHỮNG GÌ CÒN NHỚ TRONG TÔI

 

          Những cơn mưa bất chợt cho tôi nhớ lại những ngày mưa xưa ấy. Những ngày lên phà qua sông đến trường tìm kiến thức, đến trường để được thấy bạn bè, thầy cô, để được học làm người. Tôi làm sao quên được cái lạnh như tan biến, chút nước mưa cũng khô đi khi ngồi trong lớp học ấm tình bè bạn. Không biết ngày mưa xưa ấy có còn trên con đường Bạch Đằng, trên đường Hùng Vương, quanh chợ Vườn Hoa chứng kiến những cậu học trò bên Quận Ba vội vàng đến trường, vội vàng đi về cho kịp chuyến phà chòng chành trên sông Hàn một thuở.

          Một thuở được là học sinh của ngôi trường mang tên chí sĩ Phan Châu Trinh. Một thuở tôi tự hào được mặc bộ áo quần đồng phục trắng đi trên những con đường của Thị xã Đà Nẵng. Một thuở trong tôi nghĩ bọn con trai trường Phan Châu Trinh có thể là hình ảnh cho bọn con gái ở Nữ Trung học Hồng Đức, Phan Thanh Giản, Bồ Đề, Thánh Tâm, Sao Mai, Ánh Sáng, Bán Công, Nguyễn Hiền... để ý. Và trong tôi, cũng có thể là nhiều đứa con trai trong trường để ý đến bọn con gái, có lúc là cái đuôi theo tà áo dài trắng trên những cung đường của Thị xã. Tôi nhớ mãi cái thời chúng tôi thích bài hát Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy), nhớ mãi cái thời bao đứa con trai kế cho nhau nghe về những ánh mắt, nụ cười, sự dỗi hờn của bọn con gái. Nhiều lá thư viết muốn đưa cho ai đó mà chẳng dám đưa. Nhiều lời muốn nói với ai kia khi gặp mặt nhau mà chẳng dám nói. Nhiều thứ lắm muốn làm cho ai đó vui mà chẳng làm được. Để rồi, những mối tình lặng câm ấy trôi theo cùng năm tháng. Tưởng chừng nó chết theo thời gian. Nhưng rồi có khi trên đường đời gặp lại ánh mắt của người xưa, mối tình câm ấy hồi sinh. Hồi sinh nhưng trái tim của ai nấy giữ, bởi ai cũng biết phận mình. Trong lòng chỉ thầm hát lời ca "Tóc mai sợi vắn sợi dài/ Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm" (nhạc Phạm Duy).

          Rồi những ngày nắng đến. Nắng ấm sân trường tôi trong những sáng thứ Hai chào cờ đầu tuần. Nắng vào lớp học, vào từng con tim nhiệt thành trên từng trang sách. Nắng trên những thân thể bọn con trai trong những lần dự hội thao cùng các trường trong Thị xã. Nắng theo cùng quả bóng chuyền, bóng rổ trong tiếng cổ vũ của khán giả. Nắng làm bao cầu thủ đổ mồ hôi trong những pha tranh bóng, sút vào goal. Nắng cũng theo chúng tôi trong những lần dã ngoại ở Nam Ô, Mỹ Khê, Non Nước... Nắng trong tôi những ngày tháng vội vàng, những ngày tháng chỉ muốn nhớ kiến thức đã được học để chuẩn bị cho kỳ Tú tài với hình thức trắc nghiệm và được máy IBM chấm. Những ngày tháng ấy tôi cứ ngỡ như mới đây. Thế mà đã nửa trăm năm. Thế rồi thời thanh xuân của tôi và các bạn đã qua. Thế là thời bảy mươi của chúng tôi vừa chạm tới.

          Tôi nào quên được một buổi chiều dẫu là tình cờ. Tình cờ nghe cuộc gọi từ đâu xa lơ xa lắc. Và rồi ngỡ như mơ mà là thực. Đó là cuộc gọi của Hải Đà cho biết có mấy người bạn học hồi 12B3 từ Mỹ, Sài Gòn về, rất mong muốn gặp lại những bạn học thời trung học. Tôi vui đến không ngờ vì bạn tôi ngày ấy tìm ra số điện thoại của tôi và gọi cho tôi. Và kể từ đó, các bạn trong lớp chúng tôi tìm lại nhau. Rất vui và cảm ơn tấm chân tình của các bạn cùng lớp khi xưa, đặc biệt là hai bạn Đà, Mai. Có chuyện vui, buồn, chuyện đi thăm các thầy cô giáo cũ cũng nhờ tin từ Hải Đà. Ngôi nhà của Đà, Mai trở thành nơi tụ hội cho một số bạn của lớp khi có người từ xa về Đà Nẵng. Đâu phải là những món ăn đắc tiền, đâu phải cao lương mỹ vị, mà đó là những ổ bánh mì mua vội trên đường Phan Châu Trinh do Hồng Thúy mua chiêu đãi bạn bè một sáng hẹn cà phê ở nhà Đà, Mai. Đó là bữa cơm chay đạm bạc ở nhà Vân Anh. Và còn biết bao lần ăn uống ở những quán vỉa hè, vui cùng nhau nhân ngày hội ngộ.

          Mà tôi nào nhớ hết được những người bạn trong lớp tôi thuở nọ. Bởi tôi vào trường Phan Châu Trinh chỉ khi được chuyển từ trường Đông Giang ở Quận Ba sang. Từ nhà đến trường gần 5 km, do vậy, tôi vội vã đến trường, vội vã về nhà khi tan học. Vội vội vàng vàng nên chẳng mấy khi để ý đến các bạn khác.

          Nhiều khi đi trên đường Bạch Đằng vào lúc ban trưa, tôi lại nhớ những bữa trưa gặm bánh mì ngồi trên ghế đá dọc sông Hàn để buổi chiều học tiếp. Nhớ những lần ngồi nhìn con nước, mơ mộng về một thời áo trắng tinh khôi, mong về ngày mai không còn chiến tranh, không còn tiếng bom rơi, đạn lạc. Ngồi mà mộng mơ theo lời ca: "Em hãy cùng ta mơ/ Mơ một ngày đất Mẹ/ Ngày bóng dáng quê hương/ Đường hoa khô ráo lệ..." (Đôi Mắt Người Sơn Tây, thơ Quang Dũng, nhạc Phạm Đình Chương).

          Và tôi dễ gì quên những tháng ngày cặm cụi ôn bài để thi Tú tài. Những đêm mưa lạnh của những tháng trước và sau Tết Nguyên đán, tôi vẫn ngồi bên ngọn đèn vừa đủ sáng để ôn bài. Tôi không để ý giờ giấc, không để ý đến chung quanh. Chỉ biết học cho xong bài quên cả cái lạnh. Những đêm sắp đến ngày thi, dù nóng nực, đổ mồ hôi, kể cả những con muỗi bay quanh, tôi cũng vẫn cố công học. Thời điểm ấy, không chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả các bạn học lớp 12 trong lớp, trong trường đều gắng sức. Nếu bọn con trai rớt Tú tài thì thật là đáng tiếc. Tương lai, kể cả số phận có thể tùy thuộc vào kỳ thi này. Vì thế, tôi và các bạn đều cố gắng luyện rèn những kiến thức, làm quen những câu hỏi trắc nghiệm trong các môn học. Thời điểm đó, thi tất cả các môn được học: học môn nào, thì môn đó. Đến giờ nghĩ lại, quả là tôi được may và không uổng công khi đậu Tú tài. Và những kiến thức năm nào, theo thời gian, 50 năm, tôi chỉ còn nhớ lơ mơ những tên gọi đạo hàm, phép tịnh tiến, cos, sin, tang, cotang…

          Hầu như tôi chẳng nhớ được gì các tên bài học năm xưa.

          Chỉ còn trong tôi tên lớp, tên trường mà tôi từng học: lớp 12B3, trường Trung học Phan Châu Trinh.

 

HỒN BIỂN ĐÔNG

HỒN BIỂN ĐÔNG

 

          Hoàng Sa một thuở, chiếu chỉ vua ban ngàn hải lý; quê hương mênh mông nước bốn bề, xương cốt hùng binh dưới bể. Quê nhà cúng cơm!

          Hoàng Sa súng nổ, máu loang hờn căm; nghẹn uất ngấm ngầm bao năm. Đâu cọc Bạch Đằng đâm thuyền giặc? Đâu gò Đống Đa xác thù chôn?

          Trường Sa súng nổ vẫn giữ đảo, ôm cờ; là giữ, ôm hình Tổ quốc. Máu lính đỏ ngầu thấm Gạc-ma. Chập chờn hồn nương theo sóng; theo sóng vô bờ gọi Mẹ ơi, theo sóng kêu gào bớ Cha ơi!

          Giờ hiển hiện anh linh chiến sĩ ngạo nghễ giương cờ quyết hy sinh. Vẫn mắt gườm căm thù lũ giặc, theo sóng hóa triều hiển linh!

          Hiển linh có cả hồn ngư dân về biển theo Cha Lạc Long Quân. Về biển hồn vẫn theo Hoàng Sa; về biển hồn náu nương Trường Sa.

          Hồn ngư dân, hồn chiến sĩ đỏ hồng Biển Đông, xanh trời Biển Đông.

TÔI KHÔNG PHẢI NGƯỜI SÀI GÒN

TÔI KHÔNG PHẢI NGƯỜI SÀI GÒN

 

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Thương từ thuở tôi nghe Thái Thanh hát "Tình Ca" trên đài phát thanh.

          Thương từ thuở hàng tuần cứ mỗi chiều thứ ba tôi nghe Trần Văn Trạch hát về những con số đem ước mơ triệu phú.

          Thương những bước chân Gia Long, Trưng Vương, Văn Khoa, Vạn Hạnh trên những con đường làm xiêu hồn con trai xứ Quảng.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Thương ở đó có bà con, họ hàng tôi đang sống.

          Thương một thời con, cháu tôi trú học nhiễm tính Sài Gòn.

          Sài Gòn cưu mang mọi người phận khó.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Ở đó, những người bạn mến khách kiểu Sài Gòn khi tôi vào thăm, cùng vỗ đàn hát nhạc Phạm Duy; nghe bạn văn đọc thơ Tô Thùy Yên, Bùi Giáng...

          Và tôi rưng rưng tạm biệt Sài Gòn.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Sài Gòn như thể lặng yên.

          Sài Gòn của bao phận người đang sống...

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Cũng chẳng biết vì sao tôi thương.

 

BẤT CHỢT TRONG TÔI

 

16 - BẤT CHỢT TRONG TÔI

 

          Bất chợt cơn mưa bên cửa sổ, ngồi trong quán cà phê gần trường, tôi nghe lời bài hát Nhớ mùa Thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn.

          Rồi, bất chợt nắng ngọt tràn về, tôi như nghe lời thầy cô giảng thuở nọ. Tôi làm sao quên được ấm lời giảng Kiều của thầy Hồng hiệu trưởng, ngọt lời đọc thơ của cô Khanh, lời ví von giảng trong giờ vật lý của thầy Bang tổng giám thị, sôi nổi tài hoa của thầy Bạn trong giờ Việt văn, tỉ mỉ khắc nghiêm của thầy Lương trong giờ Vạn vật, bi hùng lời của thầy Hiếu trong giờ Lịch sử, chân chất trung thực của thầy Vân trong giờ Anh văn…

          Tôi nhớ đến các bạn học cùng lớp ở Đông Giang ngày ấy. Tôi nhớ khi cắm trại ở Nam Ô, vui ơi là vui!... Tôi cũng nhớ từng tổ thi đua làm “bích báo”.  Đứa nào đứa nấy đều muốn viết bài thật hay, đều muốn tỏ bày tình cảm với trường, với lớp. Trong tôi vẫn nhớ những lần tập văn nghệ, ai ai cũng muốn thể hiện mình qua những lời ca, điệu múa. Biết bao kỷ niệm về bạn cùng lớp, tôi nào kể hết…

          Đôi khi ngang qua trường cũ, thấy các em vẫn áo trắng tan trường, tôi nghe lòng trĩu nặng. Áo trắng học trò dễ thương đến lạ! Dài bay bay nhẹ nhàng mang hương trời Đông Giang – Hoàng Hoa Thám, mang tình yêu, nỗi nhớ của bao thế hệ. Và trong tôi, thoáng thấy hình bóng của ai kia như vẫn đang đâu đây trong cõi trời An Hải, như trêu chọc tình tôi thuở học trò ngu ngơ, vụng dại.

          Tôi nào quên được, bất chợt thấy đôi mắt diệu kỳ, đôi mắt to tròn và sáng của em nhìn những ai trong lứa bạn bè ngày ấy? Không biết khi ấy, em có nhìn, có nghĩ đến tôi không?...

          Bất chợt đi trên đường Lê Lợi, tôi nhớ lại, khi học xong lớp 9, bọn chúng tôi chuyển qua học ở phố, con trai học ở Phan Châu Trinh, con gái học ở Nữ Trung học Hồng Đức. Từ đó, trong lòng tôi có những 3 trường: Đông Giang, Hồng Đức, Phan Châu Trinh. Một thời mến thương, tôi nào quên được!

          Và rồi, tôi và em liên lạc qua Facebook, chỉ đọc tin của nhau, chỉ biết chúc mừng nhau khi em có món ngon, hoặc chưng bình hoa khoe cùng bè bạn. Chỉ thầm tự hào khi em viết truyện ngắn đăng trên trang nutrunghocdn.com. Đôi khi, tôi bắt gặp nỗi lo toan của em, lòng tôi tự nhủ thầm chỉ biết cầu mong em an bình.

          Bất chợt nhận tin nhắn qua Messenger là em từ Fresno, California về dự họp mặt Nữ Trung học Hồng Đức ở Đà Nẵng, nhân tiện nhờ tôi mời các bạn thời học Đông Giang chuyện trò, hàn huyên. Tôi nhận lời. Và bọn chúng tôi có một buổi ấm tình thời niên thiếu. Riêng tôi và em, chỉ cười, chẳng biết nói chi.

         May cho tôi, khi em có nhã ý mời tôi viết bài về tuổi học trò để đăng trên đặc san VỀ BÊN NHAU của Nữ Trung học Hồng Đức ở hải ngoại. Tôi có dịp nói thực lòng mình với em qua truyện ngắn “Bức thư thời áo trắng”. Tôi rất vui là em có biên tập lại. Khi truyện được in, em có tin cho tôi. Và tôi thật sự bất ngờ là em Nguyễn Anh Trinh, đồng môn của em, chọ tôi biết là chuyện của tôi và em được truyền trên khắp thế giới rồi. Tôi chỉ mừng như đứa học trò nhỏ thuở nào khi bị lỗi mà được mọi người tha thứ!       

          Bất chợt, bạn bè tôi thời sinh viên - lớp Kinh thương, Đại học Cộng Đồng Quảng Đà (đây là Viện Đại học thành lập vào năm 1974 tại Đà Nẵng, sau 1975 trường không còn) liên lạc với nhau và tổ chức gặp mặt sau hơn 43 năm xa cách. Không ngờ, trong lớp Kinh thương ngày ấy có Tôn Nữ Ái Châu và Hồ Thị Phú là bạn cùng lớp 12 A3 với em ở Nữ Trung học. Chúng tôi hàn huyên tâm sự. Đứa thì kể chuyện trong lớp Kinh thương ngày ấy chỉ có 5 cô xinh đẹp, còn lại là bọn con trai, hầu hết các cô đều đốn ngã biết bao đứa con trai cùng lớp. Và các bạn hỏi tôi là có để ý cô mô không. Tôi cười và lắc đầu. Riêng 2 cô bạn cùng lớp với em ngày ấy, phần nào cũng biết được lòng tôi nghĩ đến ai kia.

          Và bất chợt cho tôi, khi nhà thơ Nguyễn Đăng Luận, chủ biên tạp chí Tân Văn, sau đổi tên là Văn Mới mời tôi làm đại diện cho Tạp chí tại miền Trung. Tôi lấy làm vui vì tham gia cùng Ban biên tập. Văn Mới ra được 12 số. Đến năm 2018 đình bản bất chợt như lẽ thường tình vì Chủ biên về miền mây trắng.

          Cũng bất chợt, anh Nguyên Minh và Hoàng Kim Oanh ra Đà Nẵng giới thiệu, ra mắt tập thơ của chị Aí Niệm và sau đó, luôn tiện đi Huế thăm vợ chồng Minh Tự, Nguyễn Thị Tịnh Thy. Trước đó, Trần Thị Trúc Hạ và anh Hồ Sĩ Bình cũng đã rủ rê tôi cùng đi trong dịp này. Chúng tôi ra Huế. Và cũng bất ngờ, có cả anh Đỗ Hồng Ngọc, anh Nguyên Cẩn cũng ra Huế dự hội thảo về Phật giáo. Chúng tôi được vợ chồng Minh Tự đãi cơm nước.  Tối hôm đó, sau khi dùng cơm, chúng tôi đã văn nghệ văn gừng với nhau. Với tiếng đàn của Minh Tự, chúng tôi cất lời ca về xứ Huế thơ mộng, về những cuộc tình trong những bài hát. Và rồi bất chợt lời bài hát “Anh còn nợ em” vang lên, hòa quyện cùng tiếng đàn, chúng tôi hát hết lòng. Và người xúc động nhất là anh Nguyên Minh! Bởi như nhiều lần tâm sự, tôi được biết anh Nguyên Minh còn nợ trong cuộc tình một thuở. Tôi nghĩ hầu như ai đã có cuộc tình không trọn vẹn đều còn nợ nhau. Tôi cũng vậy. Và bất chợt, tôi đứng lên cầm cây đàn trên tay Minh Tự. Tôi tự đàn và hát “Ngậm ngùi”, thơ Huy Cận, nhạc Phạm Duy. Bài hát trước đây tôi đã từng hát khi dự tiệc mừng đậu Tú tài của bạn tôi năm 1974, còn bây giờ, tôi hát với lòng nghĩ đến em, người con gái tôi nào quên được.

          Trong tôi hiện về thời non trẻ, áo trắng thần tiên ẩn hiện dáng em hiền. Tôi nhớ áo trắng ngày xưa tinh khôi đến lạ, nhớ nhớ tiếng cười trong veo tuổi học trò, nhớ những lần tan học vẫn dõi tìm bóng dáng ai kia.

          Em vẫn ẩn hiện trong tôi. Tôi vẫn tìm em. Tìm được em rồi. Em biết tình tôi rồi. Tôi vẫn thường tìm trên Facebook, vẫn thấy em ở nơi ấy đó nghe! Mừng khi em gặp các bạn, mừng khi ai ấy hát vu vơ khúc nhạc tình thuở nọ.

          Và tôi, tôi thầm hát, hát mãi trong lòng: Nhớ đến một người để nhớ mọi người.

          Tôi hát thầm lời thương quý Đông Giang – Hoàng Hoa Thám. Tôi cũng thầm nhớ một thời Phan Châu Trinh, Hồng Đức. Tôi hát thầm yêu nhớ cả trời Đà Nẵng sáng mắt em hiền như thuở thư sinh. Tôi như thấy em cười cùng tôi trong ngày hội ngộ. Trong tôi vang lên giai điệu dịu dàng Nhớ đến một người để nhớ mọi người.

 

THÁNG MƯỜI MỘT – THÁNG NHỚ, THÁNG ƠN

THÁNG MƯỜI MỘT – THÁNG NHỚ, THÁNG ƠN

 

 

          Đã qua rồi cái thuở lên năm, lên sáu. Tôi đi học trường làng Quảng Đợi. Tôi chỉ nhớ mang máng, nhớ mang mang, nhớ cái thời bận quần đùi đi học. Học rồi chơi sau sân đình, học rồi ra ngồi xem các anh đá banh cuối chiều. Học rồi coi người lớn tát bàu bắt cá. Học rồi đi cùng bà nội, cùng mẹ lên nổng nhổ sắn. Học rồi mỗi buổi tối nhớ ba. Ba tôi đi dạy xa nhà, hơn tháng mới về thăm nhà một lần. Tôi nhiều lần khóc vì nhớ ba. Nhưng chẳng biết làm chi được để gặp ba. Tôi nghe người ta nói, đánh dây thép (điện tín) là người thân yêu nhận được tin của mình. Nghe vậy, có lần tôi lấy cây ra đánh vào dây phơi đồ bằng thép trong sân, vừa đánh tôi vừa nói sao ba lâu về, con nhớ ba lắm, để cho ba tôi nhận được tin. Và tôi tin là ba tôi biết tôi nhớ thương ba. Giờ nhớ lại, tôi chẳng biết là cớ chi tôi làm như vậy.

          Sau trận lụt năm Thìn 1964, gia đình tôi ra Đà Nẵng, tôi được đi học ở trường Tiểu học Cộng đồng An Hải. Có lúc bận quần xà lỏn đi học. Chưa biết dị trước con gái. Học và chơi. Và may cho tôi, khi học lớp Nhất (lớp Năm bây giờ), tôi được thầy Long dạy. Thầy lo cho chúng tôi nhiều lắm. Tôi nhớ thầy đã dạy thêm cho chúng tôi để chúng tôi thì vào lớp Đệ Thất trường công. Nhờ thầy, và khi đó, tôi nhớ là tôi đã cố gắng nhiều, lo học lắm. 5 giờ sáng là dậy, học bài. Ăn sáng, rồi đi học. Và kỳ thi vào trường công lập Đông Giang năm học 1967-1968, tôi may mắn đậu.

          Tôi còn nhớ, học những năm đầu bậc trung học đệ nhất cấp, tôi vẫn còn vô tư lự. Thế nhưng khi học lớp Đệ Ngũ, tôi bắt đầu chú ý đến các bạn gái trong lớp. Có bạn, tôi kêu chị. Có bạn tôi xưng tên. Đặc biệt, có một cô bạn làm tôi để ý. Để ý nhưng không dám nói điều chi. Tôi biết, không những tôi để ý mà các bạn nam khác cũng có tâm trạng như tôi. Và kể từ đó, tôi lo học hơn, muốn mình giỏi, tài để có thể cô bạn ấy có chút cảm tình với mình. Cũng trong bậc học này, hình ảnh thầy cô vẫn làm tôi nhớ. Có thể tôi nhớ thầy cô là nhờ tôi nhớ đôi mắt hiền, sáng, đẹp của cô bạn học ngày nào. Này là thầy hiệu trưởng Lâm Sĩ Hồng, người dạy môn Quốc Văn, người khích lệ tôi trong học tập và truyền cho tôi cảm hứng về văn chương. Này là thầy Bang, tổng giám thị dạy môn Lý Hoá luôn dí dỏm trong cách truyền thụ kiến thức cho học trò. Này là thầy Bạn, rất nghệ sĩ trong giờ dạy Anh Văn. Này là cô Khanh ân cần chăm chút việc học cho lứa học sinh chúng tôi. Và biết bao thầy cô giáo nữa...

          Khi học bậc Trung học đệ nhị cấp ở trường Trung học Phan Châu Trinh, tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng, bởi vì bậc học này, tôi chỉ biết cắm đầu, cắm cổ mà học để có bằng tú tài. Nếu không có tú tài thì uống công ơn ba mẹ, thầy cô và tương lai cũng chẳng suôn sẻ. Hơn 40 năm sau, may nhờ có bè bạn cùng lớp năm ấy, tổ chức gặp nhau, chúng tôi có dịp tìm lại cái thời thư sinh ngày ấy. Và kể từ đó, mỗi khi có chuyện vui, chuyện buồn, chúng tôi lại đến cùng nhau. Tôi lại cùng bè bạn đi thăm thầy cô cũ. Thầy tôi ngày ấy già hơn, nhưng tình cảm giành cho lũ chúng tôi như thuở nọ. Tôi có dịp chuyện trò cùng các thầy. Không như thuở đi học, tôi bớt e dè, rụt rè. Không còn nói lí nhí như lúc thầy kiểm tra bài năm xưa, không còn run run khi thầy đặt câu hỏi. Tôi may mắn, gặp lại thầy Đông Trình, người dạy môn Quốc Văn năm tôi học lớp 11 trong một lần các bạn cùng khoá tổ chức tri ân các thầy cô nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Tôi được các bạn giao việc là chở thầy về nhà sau khi tan tiệc. Tôi chở thầy. Và tôi trò chuyện cùng thầy. Thầy khuyên tôi cứ viết, cứ đam mê văn chương dẫu thời nay văn chương có sự gập ghềnh. Thầy có lúc thở dài. Trong tiếng thở dài ấy, tôi nghe thấy tiếng lòng của người trí thức miền Nam, nghe thấy được nhịp đập của người thầy một thời "đối diện" với thời cuộc. Cũng trong thời gian này, tôi được gặp lại thầy Huỳnh Khải dạy Lý Hoá, giáo sư hướng dẫn lớp chúng tôi. Và được gặp thầy Phan Thanh Kế, dạy bộ môn Toán.

          Tôi không thể quên năm 1974, tôi lại may mắn đậu vào lớp Kinh Thương, Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà. Tôi nhớ là tôi được học các môn Kinh tế học, Tiền tệ - Ngân hàng, Luật Hành chính, Luật học Căn bản, Xác suất thống kê, Anh văn, Tiếng Anh căn bản, Văn thư, Lãnh đạo và chỉ huy, Võ thuật, Nhạc lý... Trong thời gian này, tôi cũng được học môn Cộng đồng do nhà văn - thầy giáo Nguyễn Văn Xuân dạy; được học môn võ thuật do thầy Viện trưởng Ngô Đồng dạy. Rồi thời cuộc, lớp tôi học không còn, trường không còn. Mộng học đến nơi đến chốn dở dang! Nhiều đêm, tôi lại băn khoăn, tự hỏi về mình, nghĩ suy về tương lai của mình.

          Và trường đời đã dạy tôi. Tôi làm bất cứ việc gì để tồn tại. Tôi được Hội Liên hiệp Thanh niên sau năm 1975 tập hợp đi về vùng nông thôn điều tra nhân hộ khẩu, đất đai... Sau đợt điều tra ấy, tôi đi củi ở núi Sơn Trà, rồi lại đi làm thợ đụng (đụng đâu làm đó để có cái ăn). Tôi lang thang ở đường Hùng Vương, Lê Lợi, Phan Châu Trinh, Bạch Đằng... Lang thang cũng chẳng biết làm gì. Tôi còn nhớ, một bữa nọ, đứng trước cổng trường Phan Châu Trinh, trên đường Lê Lợi, tôi thấy một băng rôn có ghi nội dung là trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn tổ chức thi tuyển. Tôi nghĩ đây là dịp may cho mình, bởi tôi, khi ấy cũng không thể xác định mình sẽ làm việc gì trong tương lai cho vừa sức mình. Vả lại, tôi được đọc tiểu thuyết Tố Tâm của Song An - Hoàng Ngọc Phách, được biết tác giả từng học trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, lại viết sách. Điều ấy, cũng là động lực cho tôi khi thi tuyển vào sư phạm.

          Được học khoá 1 Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn là may mắn cho tôi. Tôi xin tỏ lòng biết ơn các thầy cô, biết ơn những người làm việc tại nơi này đã cho tôi cái nghề, cái nghiệp.

          Và rồi, tôi vừa dạy vừa học. Rồi cũng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đại học Huế. Và may nhất là trên đường đời, tôi được tiếp tục học. Học ở đồng nghiệp trong cách dạy học. Học ở bạn văn sự chân thành, khiêm tốn, không khoe khoang kiến thức, không lòe đời bằng này cấp nọ dù trí huệ của họ sừng sững như núi, sâu rộng như biển. Học ở phụ huynh cách xử sự khiêm nhường, mong con cái nên người. Đặc biệt học ở học sinh dẫu khó khăn vẫn luôn tìm mọi cách để được học. Nói đến học sinh, tôi làm sao quên được cái thời tôi dạy học ở trường THCS Lê Độ và trường THCS Cao Thắng. Tôi học được ở các em cái tình, cái nghĩa trong tình cảm thầy trò. Đó là những lần gia đình các em có hiếu, hỉ; đó là những lần các em mời tôi uống cà phê khi ở phương xa về; đó là buổi gặp mặt, liên hoan mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, là dịp các em tặng hoa, tặng quà cho tôi… Đặc biệt, tôi làm sao quên được hàng năm các em lớp 9C (những năm đầu của thập niên 1980) đã lập nhóm nhạc, dàn dựng một video về bài hát “Bụi phấn” nổi đình nổi đám. Trong những lần hội ngộ các em luôn hát tặng tôi bài hát này.

          Và giờ tôi vẫn học. Học để những đêm nằm trơ con mắt xem mình được, mất những gì, xem lại mình là ai trong cõi người.

          Tháng Mười Một lại về. Tháng, tôi nhớ một thời đi học. Tháng, tôi nhớ một thời mình đi dạy mà vẫn học. Tháng, dẫu tuổi đã xế chiều, tôi vẫn học. Tháng, tôi đã chịu ơn biết bao người.

          Trong tôi, tháng Mười Một - tháng nhớ, tháng ơn.

18 - CÁC BẠN, NGUYỄN HÒA vcv, TÔI VÀ VANCHUONGVIET.ORG

CÁC BẠN, NGUYỄN HÒA vcv, TÔI VÀ VANCHUONGVIET.ORG

 

          Nợ chữ nghĩa là nợ của người sáng tác, nghiên cứu, phê bình trên các lãnh vực khoa học, văn học, nghệ thuật… Mắc nợ phải trả nợ là quy luật của cuộc đời. Nhưng, đối với những người nợ chữ nghĩa, không phải đời bắt trả, mà tự thân phải hành tâm hồn mình để trả cái nghiệp đa mang, cái nghiệp của người sáng tạo, cái nghiệp của kẻ vác thập tự cho cõi phù sinh chữ nghĩa.

          Cũng may cho các tay bút có chỗ để mà trả nợ. Đó là vanchuongviet.org, là nơi hội tụ của biết bao người góp chữ trả nợ, không phân biệt tuổi tác, chính kiến, trong nước, ngoài nước. Vanchuongviet.org suy cho cùng là nơi trả nợ chữ nghĩa của những người quặn thắt cơn đau chữ nghĩa, của những kẻ vung bút tìm cái đẹp trên cõi nhân gian, của những con mắt nhìn đầy yêu thương, trân quý từ cánh hoa dại ven đường đến nụ hôn ngọt đầu lưỡi, từ ánh mắt học trò trong sáng đến những nghĩ suy trầm tư đầy chất thiền, chất triết, từ cảnh quê bình yên Nam Bộ đến cảnh hùng vĩ Tây Nguyên, từ cột cờ Lũng Cú ngạo nghễ Quốc kỳ đến sóng vỗ Hoàng Sa, Trường Sa…

          Cái nợ chữ nghĩa không biết vay tự bao giờ mà những người cầm bút nhủ lòng phải trả? Mỗi người có cách trả riêng. Miễn sao đời này chấp nhận. Mà trả mấy cho vừa khi lòng thôi thúc viết, khi tay bồn chồn, khi tâm tơ tưởng, khi óc cứ nghĩ mãi một điều là phải viết. Viết, viết, phải viết thôi! Như là nợ phải trả đó mà.

          Tôi thường nghe người ta nói: “Một năm làm nhà, ba năm trả nợ”. Có thể có kẻ làm nhà mà không cần trả nợ. Nhưng với vanchuongviet.org làm nhà, xây nhà những 10 năm mà nợ vẫn chưa trả xong. Người gánh cái nợ của vanchuongviet.org không ai khác ngoài Nguyễn Hòa vcv. Tôi nhiều lần tự hỏi: Không biết anh Nguyễn Hòa vcv ăn cái giải gì mà dính nợ chữ nghĩa thế? Nào là tốn thời gian, mất sức khỏe, tiền của và nhiều chuyện khác chớ chẳng chơi đâu, rõ là chuyện chữ nghĩa của bao người mà Nguyễn Hòa vcv lại mang, lại nợ. Rồi tôi nghĩ lại, như đinh đóng cột, nếu không có Nguyễn Hòa vcv thì các bạn và tôi làm gì có chỗ góp chữ trả nợ đời?

          Có lần anh Nguyên Minh (chủ biên Quán Văn), cùng anh Trương Văn Dân, chị Elena Pucillo Trương ra Đà Nẵng chơi. Chúng tôi gặp nhau khoảng một buổi. Vui vẻ bàn chuyện văn chương bên nhau. Tôi có hỏi thăm anh Nguyễn Hòa vcv. Biết anh qua cơn nguy kịch tôi lấy làm mừng. Và lòng tôi tự nhủ dù sức khỏe anh không được như xưa, nhưng anh vẫn còn nợ với bạn đọc, không biết nghĩ thế có quá ép lòng anh không?

          Và hè 2014 vừa rồi, Nguyễn văn Hòa ở Phú Yên ra Đà Nẵng. Hai chúng tôi gặp nhau trò chuyện tại một quán cà phê trên đường Phan Đình Phùng. Tôi hỏi thăm tình hình các bạn văn ở Sài Gòn. Nào là anh Nguyễn Nguyên Bảy, chị Lý Phương Liên, anh Triệu Xuân, nào là anh Nguyễn Hữu Duyên (chủ biên Hương Quê Nhà), nào Phan Hoàng nhavantphcm… Và chúng tôi cũng không quên nhắc đến anh Nguyễn Hòa vcv. Nhắc để mà cùng nhau mừng có kẻ gánh nợ cho nhiều bạn văn, trong đó có tôi.

          Cũng dịp hè này, kẻ lang thang mang nợ chữ nghĩa coi đời nhẹ như không là Tâm Nhiên (Nguyễn Đức) có về thăm quê. Tôi và Tâm Nhiên trò chuyện. Đủ thứ trên đời. Ơ hay, người tự là “vô trú” lại tìm vanchuongviet.org để trải lòng.

          Thi thoảng, ở ngoài này, một số bạn văn cùng tôi gặp nhau, mượn ly cà phê để trò chuyện. Rồi cũng không thể không nhắc đến vanchuongviet.org. Nguyễn Nho Khiêm, Mai Hữu Phước và tôi cùng một ý nghĩ là vanchuongviet.org có dấu ấn riêng, gắn với lịch sử văn học mạng đương đại.

          Có thời gian vanchuongviet.org đăng thông báo tìm người gánh vác cái nợ chữ nghĩa khi người sáng lập trọng bệnh. Nhưng rồi chẳng có ai ngoài chính anh Nguyễn Hòa vcv.

          Trời không phụ lòng người hiền. Vanchuongviet.org không phụ lòng bạn đọc, không phụ người ham viết. Nguyễn Hòa vcv vẫn trụ được, vẫn vác cục nợ chữ nghĩa đi suốt bốn mùa, suốt cõi nhân gian.

          Mừng 10 năm vanchuongviet.org tồn tại trên cõi đời này. Thời gian đến, vanchuongviet.org mãi sẽ đồng hành với bạn đọc. Nguyễn Hòa vcv, các bạn và tôi vẫn phải trả nợ chữ nghĩa. Mong thay!

 

TIẾNG GỌI VĂN CHƯƠNG

TIẾNG GỌI VĂN CHƯƠNG

 

          Niềm đam mê văn chương, theo tôi nghĩ, đó là niềm đam mê thể hiện cái tôi của mình qua nỗi khát khao về thân phận người ra sao cái giống người.. Niềm đam mê ấy theo suốt cả đời tôi từ khi tôi nghe được tiếng gọi của văn chương.

         Khi còn trẻ, lúc còn học trung học đệ nhất cấp, nào là những Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… đối với tôi sao mà kỳ diệu thế! Rồi đến khi học trung học đệ nhị cấp, tôi lại tìm đến Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Võ Phiến… Tôi cũng được đọc André Gide với “Khung cửa hẹp”, Antoine de Saint-Exupéry với “Hoàng tử bé” được Bùi Giáng dịch, Emily Brontë với “Đỉnh gió hú” (không nhớ tên người dịch)… Biết bao tác giả, tác phẩm mà tôi được đọc, đến giờ chỉ còn lại trong tiềm thức.

          Chính tiếng gọi văn chương đã kết nối nhiều tâm hồn hội tụ để trải lòng, phơi tâm, cùng hòa điệu, cùng thổn thức, nghĩ suy, bàn luận, sáng tạo những tác phẩm hiến dâng cho đời. Đời có bao đau khổ, vui sướng, bao bất hạnh, hạnh phúc, bao trở trăn, an lạc… thì văn chương có từng ấy thứ.

          Yêu văn chương, nên chỉ cần có tiếng gọi là đến với nhau. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, như là biết nhau từ nơi nảo nơi nao, từ khi nảo khi nào, chỉ cần một tin nhắn, một cuộc gọi lại tìm về nhau.

          Tôi nhớ khi nhà thơ Nguyễn Liên Châu giúp tôi in và phát hành tập truyện “Người thầy dạy búp bê” (Nxb Văn nghệ, 2009), trong lòng tôi bùng lên nỗi khao khát muốn tìm các bạn văn chương để mà trao đổi, cùng trải lòng cho khát vọng văn chương. Tôi có gửi bài cho một số trang mạng như Việt Văn Mới do anh Từ Vũ chủ biên, Bạn Văn Nghệ chủ biên là anh Trần Yên Hòa. Tôi cũng thường xem các tin, bài ở đó. Và may cho tôi, qua các trang mạng ấy, tôi biết nhà văn Nguyên Minh chủ biên tập san Quán Văn đã phát hành được 7 số. Tôi mạo muội liên lạc với anh qua email và gửi bài tham gia. Vui cho tôi, truyện ngắn đầu tiên của tôi trong Quán Văn số 8 là “Phóng sinh chữ nghĩa”, kể từ đó, tôi thường xuyên gửi bài góp mặt cùng Quán Văn.

          Và rồi, qua các tác phẩm của anh in ở Quán Văn (như số 15 với chủ đề “Sông Dinh và Ngôi nhà số 11”, số 17 với chủ đề “Bên dòng Mường Mán”) cũng như tập “Màu Tím Hoa Mua”, tôi bắt gặp một con người chịu chơi cùng văn chương. Con người chịu chơi ấy đã hồi sinh sự khát khao văn chương của bao người, trong đó có tôi.

          Cuối tháng 11/2013, anh cùng người thân và bạn văn ra Huế. Anh gọi điện là sẽ đến Đà Nẵng gặp tôi. Thật là vui cho tôi. Và tôi vui lẫn bất ngờ, hôm đó có cả anh Trương Văn Dân, chị Elena Pucillo Truong. Có cả anh Phạm Ngọc Lư, Uyên Hà nữa. Chúng tôi hàn huyên suốt cả buổi. Quan điểm này kia, ấy nọ đều có. Nhưng tựu trung ở chúng tôi đều chung một nhịp đập văn chương.

          Nhìn con người nhỏ thó, nhưng giọng hào sảng, tôi thấy khát khao của anh thuở 15, 17 ở Huế, của một thời ở ngôi nhà số 11 đường Nguyễn Thái Học, Phan Rang lại bùng lên trong ánh mắt. Khát khao ấy đã và đang đơm bông, kết trái qua các số của Quán Văn. Tính đến nay đã được 38 số theo tiếng gọi văn chương.

         Tôi chỉ biết các bạn văn góp mặt trong Quán Văn chủ yếu qua các bài viết, hoặc thấy hình ảnh của các bạn qua các đợt ra mắt Quán Văn được đăng tải qua Facebook. Thi thoảng có vài anh chị ra Đà Nẵng, đã nhắn gọi, hẹn gặp. Đầu năm 2016, tôi được anh Trương Văn Dân mời gặp ở quán Đảo Xanh nhân Tương Tri hội ngộ cùng bạn đọc, bạn văn. Và cũng đầu năm 2016, nhân gặp mặt những người học Sư phạm Quy Nhơn trước năm 1975 ở Đà Nẵng, anh Mang Viên Long gọi điện mời tôi và anh Nguyễn Đông Nhật uống cà phê tại quán Phố Xưa. Dù gặp nhau lần đầu, nhưng như thể chúng tôi hiểu nhau từ tiền kiếp. Và biết bao bạn văn nữa, tôi chưa gặp như Nguyễn An Bình, Đặng Châu Long, Từ Sâm, thụyvi, Đặng Lệ Khánh, Khaly Chàm, Trạch An – Trần Hữu Hội …, nhưng trao đổi qua tin nhắn lại thấy lòng chúng tôi như đã gặp.

          Có thể nói rằng, chúng tôi đến với nhau bởi tiếng gọi văn chương, tiếng gọi của những tâm hồn đồng điệu, những tâm hồn khao khát yêu thương.

          Tóm lại, văn chương có tiếng gọi riêng trong từng cõi lòng của con người. Đó là tiếng gọi hồn, gọi tâm, gọi cõi vô thức, tiềm thức, kể cả tiền kiếp muôn loài về hội tụ chốn trần gian, làm nên những cung bậc tâm hồn thăng hoa theo khát vọng của hoa trái chân thiện mỹ.

CHÚT TÌNH CÙNG QUÁN VĂN

CHÚT TÌNH CÙNG QUÁN VĂN

 

          Tạp chí Quán Văn là một tạp chí văn học phong phú, đa dạng, không phân biệt vùng miền, tuổi tác, không phân biệt trong nước, ngoài nước. Tất cả vì một dòng chảy chữ nghĩa, chắt lọc những tư tưởng, tình cảm, mong ước của từng người viết. Một Quán Văn đủ đầy giọng điệu, thành bản hoà âm của bao người viết mang hơi thở từ quá khứ đến tương lai giữa muôn trùng thời khắc, giữa hữu hạn và vô cùng.

          Và giữa hữu hạn và vô cùng ấy tưởng như không thể gặp nhau mà lại gặp nhau. Bởi đời người thì hữu hạn, song mong ước thì vô cùng. Lấy cái hữu hạn để thực hiện cái vô cùng quả là khó. Khó nhưng không phải không được. Khi niềm đam mê bùng phát trong hơi thở, trong nhịp đập con tim, trong nghĩ suy về chính mình, về những con người chung quanh, thì mong ước có thể trở thành hiện thực. Trong chừng mực nào đó, cái hữu hạn gặp cái vô cùng. Quả thật, đó là trường hợp mong ước của những người thực hiện tạp chí Quán Văn thành hiện thực. 12 năm được 100 số phát hành, đó là mong ước, là hiện thực, là sự gặp giữa vô cùng với hữu hạn. Và điều đó trở thành niềm vui không của riêng ai. Niềm vui đó là niềm vui chung của người viết cùng bạn đọc khi Quán Văn đạt thành quả ấy. Nhìn lại thành quả đang hiện hữu trước mắt, thành quả trên bàn tay, thành quả đọng trong tim, ai cũng nở nụ mừng vui trên ánh mắt, bàn chân, trên câu hát hát chào Quán Văn tròn 12 năm cùng 100 số. Mừng vui bởi mong ước ấy cách đây 12 năm được thai nghén và hình thành. Những ngày đầu gian nan, khó khăn đủ thứ. Thế nhưng, thời gian trôi đi để rồi Quán Văn chạm mốc 100 số được phát hành đến cùng bạn văn, bạn đọc.

          Này là những số về những con người đam mê văn chương. Nỗi đam mê văn chương ấy có từ thuở thiếu thời đã từng gắn bó với Ý Thức một thời và giờ gắn bó với Quán Văn. Đó là Nguyên Minh, chủ biên của Quán Văn, mê văn chương đến nỗi quên cả lời hẹn cùng người yêu, để rồi tủi thân, nước mắt rơi ngon lành khi thoáng nghe lời ca trong bài hát "Anh còn nợ em" (thơ Phạm Thành Tài, nhạc Anh Bằng). Đó là Lữ Quỳnh, Lữ Kiều tài hoa trên nhiều lĩnh vực, phong độ trên những câu chữ như thể là người không có tuổi già. Đó còn là Đỗ Hồng Ngọc có nụ cười thơ ngộ lẽ đời với những trang viết hiền như bụt giữa đời thường.

          Vui cùng Quán Văn, tôi còn bắt gặp một Nguyên Cẩn với ngòi bút tinh thông như nước, như lửa, như gió, như sấm sét, như đất vẽ nên nụ cười sảng khoái bên đời. Bên cạnh đó không thể không nhắc đến đôi vợ chồng nhà văn Trương Văn Dân và Elena Pucillo Truong với những tác phẩm đậm chất văn học Ý, văn học phương Tây hoà quyện chất văn học Việt Nam, văn học phương Đông.

          Tôi còn bắt gặp những số viết về những dòng sông như sông Hương, sông Hàn, sông Sài Gòn, sông Potomac... Những dòng sông mang phù sa, mang con nước ngọt lành đổ ra biển lớn, có khác chi những tác phẩm mang nội dung, hình thức dâng tặng cho đời. Tất cả những số viết về những dòng sông ấy như hiện hữu cùng thời gian trên trang viết với sự cẩn trọng, công phu của từng tác giả.

          Vui cùng Quán Văn, tôi không thể quên những ngày cùng các tác giả và bằng hữu có những chuyến đi khắp mọi miền. Một miền Tây nước Việt đầy ắp màu xanh của cây trái, kinh rạch, đầy ắp ánh mắt hiền, thân thiện của con người nơi đây. Một Phan Thiết nắng gió mặn nồng vị biển miền Trung, có cả tiếng lòng cư dân Chàm qua cây trái ngọt lành trên cát. Một Sài Gòn tất bật bao phận người vẫn hào hoa đón mừng bao bạn bè trong quán cà phê, trong những bữa cơm thân mật. Một Huế cổ kính, thanh lịch, với núi sông trầm mặc mà vẫn chân chất, dịu dàng qua cái bánh bèo, bánh bột lọc. Một Đà Nẵng đầy tình thân thiệt thà trên núi Sơn Trà vui cùng cây cỏ, cùng voọc chà vá chân nâu...

          Vui cùng Quán Văn tròn 12 năm với 100 số, tôi nào quên được các tác giả như Hiếu Tân, Lê Ký Thương, Đoàn Văn Khánh, Nguyễn Minh Nữu, Hồ Sĩ Bình, Nguyễn An Bình, Hoàng Kim Oanh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nguyễn Thị Liên Tâm, Nguyễn Quang Chơn, Trần Thị Trúc Hạ, Ban Mai, Mã Lam, Đặng Châu Long, Hoài Huyền Thanh, Dung Thị Vân, Nguyễn Châu, Lương Minh, Quang Đặng ...

          Vui cùng Quán Văn, không thể không nhắc nhớ những tiếng hát, tiếng đàn của những người yêu âm nhạc như Đoàn Đình Thạch, Đình An, Ngô Thị Mỹ Lệ, An Thảo, Quách Mạnh Kha... và cùng anh chị em khác trong những lần ra mắt Quán Văn.

          Vui cùng Quán Văn, tôi nào quên được những lần phát hành. Tạp chí thành hình hài, thành sản phẩm nhưng đến với bạn đọc ngày một không dễ. Bởi lẽ, thời buổi hiện nay có nhiều phương tiện để người đọc tiếp cận với văn chương. Sách điện tử cùng các trang mạng văn chương trên Internet. Người đọc có quyền lựa chọn phương tiện để thể hiện niềm yêu thích văn chương. Do thế, tôi cũng có lúc buồn lo cho việc phát hành Quán Văn từng số bởi bạn đọc viện cớ bận làm ăn, bận chăm con, chăm cháu, rồi lơ dần việc đọc, không mặn mà với văn chương và nói lời từ chối mỗi khi tôi đem tạp chí đến chào mời.

          Cũng may là những người yêu Quán Văn kể cả người viết và bạn đọc vẫn đồng hành cùng Quán Văn, cùng nắm tay nhau, cùng hát những bản tình ca, cùng góp công, góp của, cùng vỗ tay mừng mỗi khi Quán Văn ra mắt.

          Với tôi, 12 năm với 100 số không chỉ làm nên tên tuổi của Quán Văn mà còn khẳng định một Quán Văn có những bài viết văn chương chất lượng trường tồn cùng thời gian trong dòng chảy Văn học Việt Nam.

LỜI THƯA

LỜI THƯA               Thưa các bạn!            Trời ban cho tôi đôi mắt chào đời. Mắt trong tôi lớn dần theo năm tháng. Theo thời g...