LỜI THƯA


LỜI THƯA

 

 

          Thưa các bạn!

          Trời ban cho tôi đôi mắt chào đời. Mắt trong tôi lớn dần theo năm tháng. Theo thời gian, mắt tôi thức. Ngày thức. Đêm thức. Thức để thấy mình còn tồn tại. Thức để mong mình được tỉnh thức. Tỉnh thức để cái tôi của mình mang mộng ước, tình cảm, trở trăn, hy vọng qua câu chữ, bài viết. Tỉnh thức để nhìn mình và nhìn đời.

          Xin giới thiệu cùng các bạn!

                                Tác giả


LỜI TỰA

LỜI TỰA

Phan Trang Hy - Một tâm hồn cô đơn trên đường tỉnh thức…

 

Trong thư tịch cổ của người Trung Hoa có những chương người ta đề cập đến phần hồn.

Hồn của con người gọi là linh hồn, hồn của con vật gọi là giác hồn và hồn của cỏ cây gọi là ảo hồn.

Muốn cảm nhận được những điều ấy cần phải trang bị một tâm hồn trong trẻo, tỉnh thức hoà nhập với thiên nhiên mới cảm nhận được siêu nhiên.

Mà nói đến tỉnh thức trước hết phải bàn đến việc khai thị (khai nhãn) mà chủ thể được cảm thụ thông qua môi trường sống, sinh hoạt văn hoá và giáo dục, học hành, giao tiếp để mở rộng kiến thức và đào sâu tri thức.

Tỉnh thức là một phần của thức. Là đề tài triết lý sâu rộng mà với khả năng hiểu biết hạn hẹp chúng tôi không dám lạm bàn ở đây.

Có phải mấy mươi năm gắn bó với con chữ và hơn bảy mươi năm hiện diện trong đời, đối mặt với bao thăng trầm, dâu bể. ý thức, đau khổ, thời gian và cuộc đời mộng huyễn và thông qua những tàng thức ấy mà Phan Trang Hy đã đặt tên cho tuỳ bút của mình là Mắt đá, mắt cỏ cây và mắt thức chăng?

Đọc những trang tuỳ bút của anh tôi như đọc một tâm hồn cô đơn trong những ngược, xuôi đời sống, mà hành trình truy tìm và tái tạo cái đẹp lại là một hành trình gian nan đòi hỏi mắt nhìn thực và rung cảm thực.

Bắt đầu bằng vẻ đẹp của quê hương (Hương gió Đà thành) đến vẻ đẹp của những nét bất toàn trong tình cảm (Và em thấp thoáng trong mưa- Dáng xưa tôi tìm). Lật giở những trang kế tiếp anh đã đưa tôi vào thế giới đa dạng vẻ đẹp của một tâm hồn đa cảm và đầy tính nhân văn (Thèm một tiếng rao- Ngày Tết vắng tiếng rao) cũng là một dạng “thức” về những thân phận con người yếu thế giữa đời và đang chật vật mưu sinh. Hơn thế nữa (Nỗi niềm cùng sách) là những đớn đau tột cùng của kẻ sĩ khi phải đối mặt với những nhu cầu đơn giản mà cần thiết trong cuộc sống. Tôi hiểu trạng thái giằng xé, ngập ngừng, phân vân của anh khi đứng trước gian hàng thu mua sách cũ mà ngậm ngùi quyết định rằng: những cuốn sách chứa đựng cả nền văn minh nhân loại đôi khi không lớn bằng lon sữa nuôi con.

Tuỳ bút của Phan Trang Hy là tổng hợp những mẫu chuyện diễn ra trong đời thường, rất thường. Nhưng được viết ra với một tâm hồn đa cảm và đầy biến động với cảm thức về sự dời đổi và tần huỷ của thời gian.

Lạc lỏng và cô đơn là những ám ảnh tột cùng xui anh tìm kiếm hồng ân của Chúa, lòng từ bi hỷ xả của Phật. Những đấng cứu thế được xem là toàn chân, toàn mỹ, toàn thiện và toàn năng rồi lặng lẽ quay về với thuộc tính gồng gánh của một kiếp người …

Đọc tuỳ bút của Phan Trang Hy tôi lờ mờ thấy mình ở đó. Một góc phố, một con đường, một tiếng khóc trong mịt mù kỷ niệm, một thời cầm trái tim mình qua các nẻo đường mà hân hoan ca tụng tình yêu. Tôi cũng như thấy mình một lần nào đó đứng tựa lưng vào cánh cửa tróc sơn, hoen rỉ của một ngôi trường cũ mà lẩm nhẩm đọc thơ Huy Cận:

“Lạy Thượng đế xin cúi đầu trả lại

Linh hồn tôi một kiếp đã đi hoang

Sầu đã chín xin người thôi hãy hái

Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng…’

Tuỳ bút Mắt đá, mắt cỏ cây và mắt thức của Phan Trang Hy.

Xin được trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

                                             Đà Nẵng Tháng 3-2026

                                          V/p Đại diện NXB Văn Học

                                        Đà Nẵng- Miền Trung Tây nguyên

 

                                                         H.MAN

MẮT ĐÁ, MẮT CỎ CÂY VÀ MẮT THỨC

MẮT ĐÁ, MẮT CỎ CÂY VÀ MẮT THỨC

        

          Sinh thời, mỗi khi nói chuyện về nhân quả, bà Nội tôi thường khuyên tôi là “Trời có mắt”. Và quả thật, biết bao nhiêu chuyện tôi đọc, nghe kể, chứng kiến đều cho tôi niềm tin là con mắt của Trời có khắp mọi nơi, đã, đang theo dõi tôi, theo dõi loài người, chúng sinh trong cõi ta bà này.

          Và tôi như thấy mắt Trời hiện ra bằng hình tướng cụ thể của muôn loài.

          Đó là con mắt của đá. Những đá núi như thấy từng bàn tay, bàn chân của thảo mộc, cầm thú, loài người, sống nương tựa vào nhau. Đá thấy những “chú nai uống trăng vàng” trong con suối chảy dịu dàng. Đá thấy tình yêu thương của chim mẹ mớm mồi cho chim con lớn lên cùng cây lá. Con mắt của đá còn thấy anh em mình chịu đớn đau để thành những con đường dài đẹp nối làng quê với phố thị, nối biển với rừng, nối ngọt ngào thương yêu khắp mọi nơi trên trái đất. Và con mắt đá thấy anh em mình hy sinh thành những ngôi nhà xinh xắn chở che tình yêu gia đình, cha con, chồng vợ... Mắt đá là hồn của đá. Hồn của đá chứng kiến những trận động đất, thấy cảnh "không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào"(Kinh Thánh). Biết là vậy, nhưng hồn của đá dựng nên những công trình đá khằp thế giới như Kim Tự Tháp Giza, Đấu trường La Mã, Đền Taj Mahal, Đền Angkor Wat, Đền Banteay Srei, Thành nhà Hồ v.v…

          Đó còn là mắt cỏ cây bởi cỏ cây cũng có hồn. Hồn thảo mộc có từ những tảo lục, rêu, dương xỉ, đến những loài cây nổi tiếng như tử đằng, sồi, anh đào, máu rồng… Hồn thảo mộc của lan, hồng, mai, cúc, sen, huệ... thành hương hoa thơm nức. Hồn thảo mộc có trong ổi, mận, mít, xoài, lúa, bắp, đậu, mè... thành quả hạt ngọt bùi cay đắng. Hồn thảo mộc có trong ngọn rau muống một thời dầm tương thấm nỗi nhớ quê nhà, có trong trái khế đại bàng ăn một quả trả ngàn vàng. Cũng có trong tiếng sáo của Trương Chi tương tư; cũng có trong trúc Nam Sơn ghi tội của giặc Ngô phương Bắc. Hồn thảo mộc ẩn trong tiếng đàn tơ rưng vang dội đại ngàn; ẩn trong thời gian thăng trầm của những ngôi nhà cổ ở Hội An, Hà Nội ... Hồn thảo mộc còn chứng kiến cảnh thái tử Tất Đạt Đa tọa thiền và chứng đắc giác ngộ thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bên gốc bồ đề. Hồn thảo mộc chứng kiến cảnh Chúa Giê su chịu khổ hình bị đóng đinh trên thập tự gánh tội lỗi loài người. Hồn thảo mộc còn hy sinh thành nguồn dinh dưỡng nuôi sống muôn loài, trong đó có bạn và tôi.

          Bạn và tôi có con mắt của mình để thấm lời của Nguyễn Du: "Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Thấy được biết bao cảnh đời của nhân thế. Vui có, buồn có. Có thể đó là cảnh "còn hai con mắt khóc người một con" (Bùi Giáng), cũng có thể đó là cảnh "con mắt còn có đuôi" trong “Tình Già” của Phan Khôi, và hơn hết là “Đôi Mắt” của Nam Cao. Và còn nhiều con mắt nữa...

          Riêng tôi, nhiều khi mở mắt mà vẫn không nhìn hết cảnh thế gian. Cho nên lúc nằm, trằn trọc, dẫu nhắm mắt, tôi vẫn như thấy bao điều. Thấy lại cảnh mình lúc lên mười một tuổi bị ăn đòn vì lấy trộm đồ của gia đình đi bán lấy tiền ăn hàng. Thấy đôi mắt hiền của cô bạn cùng lớp như thể hớp hồn của tôi một thuở. Tôi thấy ánh mắt buồn buồn của vợ tôi khi chúng tôi giận nhau và ánh mắt của cô ấy như cười khi chúng tôi có những niềm vui nho nhỏ. Tôi thấy cả ánh mắt tin yêu của ba mẹ tôi nhắn nhủ tôi trước lúc lâm chung. Tôi thấy ánh mắt trách móc của học trò tôi trong hai lần tôi làm sai trong cuộc đời dạy học (một lần tôi mời phụ huynh học sinh nêu khuyết điểm của con họ, một lần tôi đánh học trò). Tôi tự thấy lại là những chuyện ấy chẳng là gì, chẳng qua cũng vì cái tôi của tôi. Biết bao điều đã qua tái hiện trong tôi. Và cả những gì tôi thấy trong tương lai dẫu biết chỉ là điều tưởng tượng. Nếu được, tôi xin không mắc lại những điều sai trái trước đây và giữ gìn, thực hiện những điều tốt đẹp.

          Nhiều lúc tôi nhìn chính tôi. Nhận xem cái bản mặt của mình. Ngắn, dài, tròn, vuông ra sao. Chỗ nào xấu, chỗ nào đẹp? Con mắt tôi thức và mãi tự hỏi về chính mình. Hỏi như bao người từng hỏi. Tôi nhìn tôi. Tôi nhìn bao người. Tôi như thấy Mãn Giác Thiền Sư mỉm cười cùng lời kệ: "Xuân khứ bách hoa lạc, xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, lão tòng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

          Tôi giật mình như có tiếng Nội tôi ở bên tai là Trời có mắt.

          Nhìn ngoài kia đá vẫn thức, cỏ cây vẫn thức.

          Mắt đá, mắt cỏ cây, mắt bạn và tôi vẫn thức chứng kiến nhân quả luân hồi.

          Và, mắt Trời luôn thức để tỉnh thức muôn loài.

 

HƯƠNG GIÓ ĐÀ THÀNH

HƯƠNG GIÓ ĐÀ THÀNH

 

          Gió lại về khi sớm, lúc hôm. Gió mơn man tìm hoa đùa cợt. Gió khoe tình trên cát Mỹ Khê; vui cùng con sóng Xuân Thiều, Non Nước. Gió trong tôi như trôi cùng cây cối Sơn Trà, Hải Vân, cùng lượn lờ theo Bà Nà – Núi Chúa…

          Gió mang hương nồng vị biển. Khi mặt trời vừa chớm hừng phía Cù Lao Chàm, những con cá tươi ngon về trên bến bãi Thọ Quang, Phước Mỹ mang cả hương vị biển về từng con bếp phố quê. Này là những con nục đều nhau, mập khoảng hai ngón tay nằm trên những mẹt. Nhìn những con nục, tôi nhớ lại những lần thưởng thức chúng. Còn gì bằng khi chúng được hấp chín cùng nấm mèo, thịt heo ba chỉ, trộn cùng gia vị như tỏi, hành, gừng được cuốn với rau muống để y cộng cuốn bánh tráng. Hoặc đơn giản hơn là kho cùng với một chút xì dầu, gia vị, ớt màu…, những con nục thơm mềm như được đóng hộp. Tôi quên sao được cái hương vị ấy, kể cả xương, như tan trong miệng của tôi khi ăn chúng với cơm. Và còn đây là những con mực trắng hồng dưới nắng mới. Và tôi nhớ những lần vui cùng bạn bè trong những cuộc vui, chúng đã mang đến cho chúng tôi, những thực khách, ngẫm và thưởng thức được hương vị ngọt bùi của cuộc đời nhân thế. Nếu mực nhỏ, thì có thể hấp, hoặc xào chúng. Rất đơn giản, nhưng vẫn có hương vị riêng của những bữa ăn. Còn nếu chúng lớn, thì hấp, rồi cắt từng lát, xếp trên dĩa, ăn kèm với chuối chát, rau thơm chấm với nước mắm được pha chế. Hoặc cách khác là chúng được phơi khô, được nướng lên, xé rời từng sợi, chấm với tương ớt là có thức nhắm để vui cùng bè bạn tương giao.

          Dọc những con đường ven biển cũng như một số nhà hàng lớn trong phố, hương vị biển như tràn đến tận con mắt thực khách. Người ta chỉ trỏ, chọn từng con tôm, con ốc; người ta xem và cảm nhận hương vị của những con cua, con cá, tôm hùm. Hầu như hải sản Đà Nẵng đều có mặt ở các quán ăn trên những con đường, con phố đó. Đến Đà Nẵng, thưởng thức được hương vị biển thì mới cảm nhận một phần cái hồn của ẩm thực phố thị miền Trung.

          Và gió còn mang hơi phố nồng nàn. Này là hương cà phê buổi sớm, khi chiều, kể cả tối. Chút hương cà phê vỉa hè, quán cóc giản đơn, uống vội khi chưa kịp ăn sáng của ai và cả tôi nữa. Có lần về quê thật sớm, tôi vội thưởng thức ly cà phê bên vỉa hè ở đầu đường Nguyễn Văn Thoại. Cầm ly cà phê hương vị đậm đặc, cái chất cà phê chỉ có ở Đà Nẵng, khi mặt trời chưa mọc, tôi thấy nhiều người đi bộ tập thể dục đang uống hương trời buổi sớm. Rồi tôi cũng thấy nhiều chiếc xe máy chở hàng tươi sống về các nơi. Tôi tưởng chừng hương của những bó rau lang, rau muống, của những quả cà rốt, su hào, cải bắp, những bó hành… trên những chiếc xe máy được các cô gái chở từ Điện Nam, Điện Ngọc ra như hòa trong khí trời Đà Nẵng. Tôi cũng nghe những tiếng rao hàng. Tôi như thấy hương của bắp Đại Lộc, Điện Bàn vừa nấu chín ngọt, như thấy hương của nếp, hương của lá gai nhuyễn thơm đường trong những chiếc bánh chưng, bánh ít tận Hội An.

          Gió Đà Nẵng còn mang hương vị gió Lào. Ôi, làm sao tôi quên những lần nắng nóng. Cả khứu giác, xúc giác như nóng lên cùng gió! Cái nắng nóng tỏa mang hương lá khô queo như vắt hết mồ hôi trên từng thớ lá. Hương gió Lào như thấm cả đêm, trăn trở nỗi niềm của phận người cần lao trong những căn trọ.

          Rồi những đợt gió bấc tràn về, gió mang hơi lạnh, mùi hương của đất trời Đà Nẵng như quánh lại, lạnh trong từng hơi thở. Còn gì thú bằng nếu đó là ngày nghỉ, được có ly cà phê nóng và nghe nhạc, nhìn ngắm phố phường, hoặc trầm tư thế sự, hoặc tịnh yên bên bằng hữu. Nếu có dịp, ghé một quán bánh xèo vào lúc xế chiều, hoặc tối nào đó, thật là thú vị khi thưởng thức những cái bánh vừa đúc, còn bốc khói. Những chiếc bánh xèo mang hương vị của gạo hòa trộn với tôm, trứng, thịt, giá đỗ… được chấm với nước mắm ngon, quyện vào nhau làm ngon miệng người dùng. Trên từng con phố ẩm thực, món bánh xèo dân dã tỏa hương vị ra tận đường từ những chiếc bếp lò đỏ lửa, bánh ngậy thơm như mời mọc bao người qua lại. Nếu bụng đói, khó mà không nuốt nước miếng!

          Ai đã từng ghé thăm Đà Nẵng, cũng như người Quảng Nam- Đà Nẵng, quên sao được hương vị của mì Quảng và món bánh tráng cuốn thịt heo. Có thể nói đây là hai món ăn mang hương vị đặc biệt về ẩm thực của người dân xứ Quảng. Có thể khẳng định rằng, hai món ăn trên là hai món ăn đặc trưng của Quảng Nam - Đà Nẵng.

          Và tôi làm sao quên được, những lần cùng người thân yêu trên những con đường tìm hương vị phố quê. Gió bên tôi, mang bao hương vị của xứ sở. Này là hương làng rau La Hường; này là hương lúa Hòa Vang đang độ vào mùa; này là hương trái cây đang vừa độ chín.

          Gió Hòa Vang lại mang thêm hương chiếu Cẩm Nê. Này là những chiếc chiếu mới tinh thơm nắng, gió, mồ hôi làng chiếu. Còn gì thú vị bằng khi nằm trên chiếu vào những đêm hè, hương cói như phảng phất đem cả cái dịu dàng vào giấc ngủ. Còn gì hơn khi những đêm mưa, chiếu Cẩm Nê tỏa hơi ấm quyện lấy hơi người. Còn gì tuyệt diệu bằng nằm trên chiếc chiếu mới đêm tân hôn, hương trinh như tan chảy vào nhau, gắn chặt tình yêu đôi lứa!

          Trong gió, tôi cũng cảm được hương vị của mùi nước mắm Nam Ô, cái hương vị trong từng bữa ăn thường có. Có thể, đó là bữa ăn của công nhân, với những cộng rau luộc, chấm vội cùng nước mắm dằm ớt, đưa vội những miếng cơm cho qua cơn đói; cũng có thể đó là bữa cơm ngon đầy đủ cá thịt của bao gia đình vẫn không thể thiếu chút nước mắm; và cũng có thể, trong mâm cúng giỗ, trên bàn có chén nước mắm kèm thêm… Cái mùi mắm ấy là một phần hương vị quê hương đi suốt bao phận người Đà Nẵng.

          Gió cũng mang hương từ đá của làng nghề Non Nước đến cùng tôi. Và tôi đến cùng Non Nước, Ngũ Hành Sơn. Nhìn những tượng được khắc, trong tôi như cảm nhận được hương trinh của những tượng thiếu nữ, như hít được hương trầm linh diệu của tượng Phật, tượng Chúa, như thấm được mùi đời của bao tượng danh nhân. Và tôi không thể không thốt lên, mừng reo hương vị của lễ hội Quán Thế Âm còn vương vấn đâu đây trong những ngày còn lại.

          Gió vẫn cứ về Đà Nẵng thân yêu. Và gió sông Hàn tỏa hương mùi pháo! Bao mùa thi pháo hoa quốc tế Đà Nẵng như hương đồng, hương phố, hương biển, hương núi tạo nên sắc màu đáng yêu, tạo nên chất hương riêng cho Đà Nẵng.

          Chợt trong tôi lại rộn lên điệu ca: “Sống trong đời sống/ Cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?/ Để gió cuốn đi/ Để gió cuốn đi” (Trịnh Công Sơn). Và tôi thấy cái lòng Đà Nẵng như hòa cùng gió. Hương gió Đà thành như thấm vào tôi!

VÀ EM THẤP THOÁNG TRONG MƯA

VÀ EM THẤP THOÁNG TRONG MƯA

 

          Có những cơn mưa thành lệ thường. Sáng nắng chiều mưa quen thuộc. Quen thuộc như những bước chân người thân đến bên ta; quen thuộc như giọng nói mà ta thương yêu, trìu mến; quen thuộc như mùi cơm canh nóng lúc hoàng hôn. Nhưng cũng có lúc mưa làm cho ta lo sợ. Sợ lo vì mưa lớn, mưa dữ khiến cuộc sống đời thường đảo lộn, đớn đau. Nào là mưa ngập phố phường, nào là mưa gây lũ quét, nào là mưa làm mất mát, đau thương cho bao kẻ, bao người.

          Nhiều lần, tôi cũng đi dưới mưa. Thế nhưng, cũng có khi bị bắt buộc. Thường là cực chẳng đã. Không dưng ai lại thích đi dưới mưa bao giờ. Thôi thì chịu vậy. Lấy đó làm ngọt làm ngào cho ra dáng chịu chơi, cho ra dáng bụi. Chớ đi dưới mưa kèm theo gió lạnh dễ gì vui. Nhưng nghĩ mình cũng còn may mắn, đi dưới mưa mà nghĩ về đời, nghĩ về người khác. Còn biết bao người phải đội mưa mưu sinh, phải dầm mưa lo toan cuộc sống. Còn biết bao người khốn khó dưới những cơn mưa trái khuấy cuộc đời.

          Và may cho tôi khi có cơn mưa này. Không phải đây là cơn mưa bất thường. Bởi dự báo thời tiết đã phát đi. Bởi tôi làm biếng không đọc tin nhắn trên điện thoại.

          Ngồi một mình trong quán cà phê quen thuộc trên đường Trần Hưng Đạo, tôi nhìn những giọt mưa như đang rửa bụi trần cho chậu hoa vàng treo bên cửa sổ để rồi qua cơn mưa, những bông hoa kia sẽ tươi thêm, ngời ngời sắc thắm. Nhìn những bông hoa đang tắm mưa, tôi mường tượng đó là những thanh nữ đang đùa vui giữa đất trời khiến cho hồn thi nhân, văn sĩ ngây ngô ngồ ngộ.

          Tôi mở điện thoại di động chụp vài tấm ảnh có chậu hoa vàng dưới mưa. Tôi gửi qua messenger cho người bạn. Gửi xong tôi lấy làm vui lắm vì bạn nhắn lại là lãng mạn quá chừng. Tôi cảm ơn.

          Và như là quán tính khi vào trang Facebook. Tôi vào trang nhà của em. Vẫn những ảnh về hoa, về cỏ trên sân nhà em ở. Tôi tự hỏi, không biết mùa này ở Fresno có mưa không? Và em có ngồi trong quán cà phê nào đó cùng bè bạn, người thân nhìn mưa không? Hay ngồi một mình? Đọc status của em, tôi thấy những hoa sứ, ngọc lan...  quanh nhà em nở nụ cười hiền khô. Những bông hoa của bạn bè, người thân em tặng được bón chăm bởi bàn tay quen thói hay làm của em. Tôi mường tượng em vừa làm vừa cười hạnh phúc bên những bông hoa xinh ấy. Và tôi như thấy nụ cười của em thấp thoáng trong mưa...

          Rồi tôi nhìn ra khung cửa, tôi thấy những bước chân vồi vội, những chiếc xe chạy gấp gáp. Những bước chân vồi vội ấy có kịp về nhà để không bị ướt áo, để nụ cười của bé con được sà vào lòng ba làm nũng. Những chiếc xe chạy gấp gáp ấy có kịp giờ hẹn cùng ai để nở nụ cười khi bàn tay ướt mưa vuốt mặt. Và ngoài kia, mưa như rải những nốt nhạc trên sông Hàn, dòng sông một thuở em qua, dòng sông một đời tôi mang nợ.

          Mưa vẫn rơi rơi. Tôi nhìn mưa, lại nghĩ đó là những giọt nước mắt mừng vui của Ngưu Lang - Chức Nữ cho thời khắc được ở bên nhau. Nhìn mưa tôi như thấy em cười tự thuở thư sinh hát lời ca giọt mưa trên lá...

          Những giọt mưa thành suối khe, thành sông hồ. Những giọt mưa về biển. Để rồi một ngày nắng lên, những giọt mưa ngày nào thành mây trời theo gió lang thang viễn du, rồi trở về đất. Những giọt mưa tuần hoàn. Những giọt mưa theo vòng luân hồi của vũ trụ có khác chi kiếp người giữa chốn trần ai.

          Những giọt mưa ngày xưa, những giọt mưa ngày nay và ngày mai vẫn vậy.

          Nhìn mưa tôi như thấy ở Fresno cũng có mưa. Mưa. Mưa. Mưa. Những bông hoa nhà em trong mưa. Và em thấp thoáng trong mưa.

 

DÁNG XƯA TÔI TÌM

DÁNG XƯA TÔI TÌM  

                                      Tặng NHA TRANG

 

          Đà Nẵng tháng 4. Nắng vẫn vậy và con đường Bạch Đằng vẫn vậy. Vẫn nhịp xôn xao của gió sông Hàn. Vẫn còn đây những kỷ niệm dáng xưa.

          Tháng 4 năm ấy, tôi bước những bước dớn dác tìm em ở bến xe. Nghe thằng bạn nói, em ở đâu đó gần bến xe. Thằng bạn nói như in là có biết em ở đó.

          Thật là bể dâu! Cuộc đời này quả là dâu bể. Mới đó, em là cô sinh viên đài các. Giờ, em ở đâu? Tôi tìm em khắp chốn. Những bước chân rã rời, tôi tìm đường, tìm cư xá. Kia rồi! Nhà của em ở kia. Mái lợp tôn xi măng, xinh xắn. Tôi mường tượng ở đó có đôi mắt sáng của em. Ở đó có nụ cười của em. Tôi như thấy em “lười lĩnh”- từ mà em thường dùng - ôm chiếc gối, nằm nghe những bản tình ca. Tôi mường tượng buổi chiều, em ngồi đọc sách, nắng dịu nhẹ. Con mèo tam thể hiền dụi đầu vào chân em. Em bâng quơ hát bài Tuổi đá buồn của Trịnh. Và những lúc vui, em hát bên những chiếc bánh ngọt mới làm thơm lừng. Em vẫn thế, vẫn đi suốt cuộc đời áo trắng trong tôi.

          Tôi vẫn tìm em. Tôi quẩn quanh ở bến xe hàng tuần, chỉ mong tìm được em như lời thằng bạn kể. Nhưng chẳng thấy bóng dáng em đâu. Chỉ nắng, bụi mù. Chỉ có nỗi khắc khoải trong tôi. Tôi tìm em hoài mà chẳng thấy!

          Nhớ thuở học trò, tôi cũng thường tìm em trong mơ ước. Mơ ước đã giúp tôi lớn; mơ ước đã giúp tôi không thành người xấu. Hồi còn học ở Đông Giang, nghe em rủ các bạn đi Non Nước, thế là, tôi cũng tìm cách đi, dù em chẳng hề quan tâm tới tôi. Tôi nhớ ngày ấy, người đông vô kể. Giữa dòng người, tôi mong được gặp em, gặp để chứng tỏ rằng, tôi có thể đến cùng em, như thể rằng Non Nước là nơi tôi được gặp em. Nhưng, vẫn người là người, em đâu chẳng thấy. Tình cờ tôi gặp đứa bạn. Nó chỉ tôi biết em đang ở động Huyền Không. Tôi lại đến động Huyền Không. Sau này tôi mới biết đó chỉ là trò đùa của nó. Bên tai tôi có tiếng nhắc thầm là em đang tìm đường Lên Trời. Tôi bèn tìm đường lên trên ấy. Lên Trời đâu có dễ. Phải bò, phải có chút can đảm, phải có lòng say mê. Tôi trèo lên được. Một không gian hữu tình, một làn gió mát, một chút nắng, chút rạng rỡ... Thế mà, em đâu chẳng thấy. Và tôi lại tìm em.

          Tôi hoà vào dòng người trẩy hội. Vẫn tìm em. Vẫn thầm gọi tên em. Thấy người ta khắc tên của nhau trên những vách đá. Tôi cũng bắt chước, tìm tên của một ai đó có trong tiểu thuyết, trong truyện kiếm hiệp có cả tên tôi và em để khắc. Ôi! cái thuở học trò sao ngô nghê dễ yêu đến vậy? Và tôi đã khắc tên của tôi, của em lên vách đá như minh chứng rằng tôi đã yêu em – dù là yêu chưa dám ngỏ.

          Rồi ngày cũng tàn. Người lại vắng. Tôi vẫn đứng dưới chân núi Ngũ Hành đợi em.

          Và rồi, tôi đợi, đợi cái ngày tôi thổ lộ lời nói yêu em vì tôi nghĩ rằng mình đã đủ tự tin mà thổ lộ. Giữa tháng 3-1975, tôi viết thư cho em. Tôi biết không còn thời gian cho bức thư viết vội khi cuộc chiến gần đến ngày kết thúc. Thư tôi gửi qua đường bưu điện. Tôi cầu Trời cho em nhận được thư tôi. Thư tôi chẳng thể nào đến được em, tôi biết vậy. Chỉ buồn vì đến giờ em vẫn chưa hiểu được tình tôi. Không biết bây giờ bức thư ấy có ai cất giùm tôi không? Riêng tôi, bức thư ấy trong lòng tôi vẫn vẹn nguyên như mối tình không trọn vẹn. Và tôi vẫn cứ tìm em...

       Thi thoảng, tôi có đi ngang qua con đường có nhà em ở. Vẫn cư xá đó, nhưng giờ có người khác ở. Tôi tự nhắc mình: một thời ở đó có em. Một thời trong tôi sống dậy. Biết em thích nhạc tiền chiến, tôi cũng bắt chước thích theo. Biết em thích làm thơ, tôi cũng tập tành làm thi sĩ. Tôi tự nhủ lòng là phải học để khỏi hổ thẹn với em. Làm sao tôi quên được cái dáng “mai cốt cách, tuyết tinh thần” của em cùng đôi mắt trong, tròn xoe với lông mày thanh tú. Ai cũng khen em có đôi mắt sáng và hiền. Tôi lấy làm vui vì điều đó, em có biết không?

          Cả tháng 4 năm ấy, tôi bồn chồn tự hỏi, em ở đâu?

          Vẫn những ngày tháng 4, những ngày nắng bắt đầu mọng đỏ ở quê mình, tôi mơ thấy em cười trong ngày hội ngộ. Bản nhạc ngày xưa, một thời em hát và tôi đã hát theo. Tôi như tìm lại tuổi thư sinh.

          Giờ, em ở xứ người, tôi biết vậy. Biết để mà yên tâm rằng em vẫn còn trên đời này. Vẫn cùng tôi sống dưới vòm trời này. Vẫn nhớ về mái trường Đông Giang nửa phố nửa quê ngày ấy.

          Tôi vẫn còn thầm gọi tên em, gọi trong tiềm thức. Trong tôi, dáng em ngày xưa vẫn tinh khôi, vẫn mộng đẹp. Tôi vẫn thấy em như thời áo trắng. Vẫn còn mãi trong tôi những gì đẹp nhất về em. Và cuộc hành trình trên cõi đời này tôi mãi tìm em.

 

CÀ PHÊ SÁNG VÀ TÔI

CÀ PHÊ SÁNG VÀ TÔI

 

          Lệ thường, tôi ngồi cà phê buổi sáng. Ngồi cùng những người bạn. Ngồi để tìm chút hương vị ngày mới.

          Ngồi nhâm nhi chút đắng ngọt, tôi như thấy mình đang nếm vị cõi đời. Cái mùi vị ấy tôi đã nếm hằng ngày, đã từng mời bè bạn khi gặp nhau, khi có chuyện vui buồn trong cuộc sống. Cái mùi vị cà phê có gì mà tôi không thể bỏ được? Tôi cũng không biết nữa.

          Tôi nhìn ra đường. Một vài người già đi bộ chậm rãi. Nhìn những người ấy, tôi mường tượng có chút hình ảnh của Ba Mẹ tôi ngày nào. Tôi như thấy ở họ có dáng vẻ của Ba Mẹ tôi. Và tôi như thấy đó là dáng vẻ của mình nay mai. Nhiều lần tôi thấy dáng vẻ ấy. Cũng nhiều lần, tôi cùng bạn bè ngồi chuyện trò về cái dáng vẻ già nua của mình đang đến. Điều mà chúng tôi đồng điệu là không ai tránh được già và bệnh và xem đó là quy luật cuộc đời. Chúng tôi chép miệng khi có thằng bạn thân gần 10 năm bị bệnh, nằm một chỗ. Không gian di chuyến của nó là cái giường ở nhà và cái giường ở bệnh viện. Đến khi nó ra đi, chúng tôi như tự nói lời an ủi với lòng mình: Cái thân xác hắn không còn đau nữa. Chúng tôi cũng chép miệng khi biết tin một đứa bạn cùng trang lứa bị bệnh ung thư, dù gia đình giàu có, không tiếc tiền, lo thuốc thang đầy đủ, thế nhưng vẫn phải chấp nhận số mệnh, từ giã cõi đời. Và chúng tôi chép miệng là mong một ngày nào đó, nếu chúng tôi có ra đi thì xin Trời Phật thương tình được ra đi nhẹ nhàng để khỏi phiền cho người ở lại.

          Cái vị đắng có chút ngòn ngọt của cà phê đưa tôi về với thực tại.

          Trước mắt tôi là cô bé trạc tuổi con tôi ngồi ở một góc bên chậu cây cảnh. Dẫu tôi chẳng muốn chú ý đến ai, thế nhưng hình ảnh của cô bé lại đập vào mắt tôi. Thường xuyên, cô ấy uống chai nước ngọt tăng lực vào cái thời điểm đáng lẽ là ăn buổi sáng. Tôi không biết cô ấy tường tận, chỉ biết là cô ấy chưa bao giờ uống cà phê dù đây là quán bán cà phê là chính.

          Cũng chừng ấy con người trong quán vào buổi sáng mỗi ngày. Thỉnh thoảng có vài người khách lạ. Nghe giọng nói của họ, tôi biết họ đang đi du lịch, đang tận hưởng những phút giây đầy ý vị của cuộc đời. Để rồi, sau này, họ có cái để nói, để khoe với người thân, bè bạn.

          Và rồi cái quán cà phê xuất hiện đứa bé bán vé số. Nó đi từng bàn mời người mua. Không biết nó có linh tính gì mà nó không mời tôi mua. Kể cũng lạ là tôi chưa khi nào được mời mua vé số ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời điểm nào. Nhìn đứa bé, tôi chỉ biết thương, cái tình thương thường tình, chứ chẳng biết làm gì khác.

          Rồi lại xuất hiện người đàn ông bán tăm bông. Bạn tôi ngồi cùng bàn lấy hộp tăm nhãn hiệu Tình thương, rồi gửi tiền cho ông ta. Khi ông ta đi rồi, bạn tôi mới lên tiếng: Mua cho có mua, chứ mình mới mua hôm qua. Nhìn ông ta mời bàn khác, tôi thầm nghĩ: Đáng lẽ với cái tuổi của ông ta thì ông ta đâu phải nhọc nhằn, mưu sinh như vậy. Nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại, mỗi người mỗi hoàn cảnh thì biết làm sao.

          Bỗng bên cạnh bàn tôi có tiếng nói oang oang. Một giọng nói của một người đàn ông. Trong lời nói ấy, tôi như thấy đó là giọng nói của một kẻ vừa về hưu. Không muốn nghe cũng không được, bởi giọng nói ấy to, khoẻ. Ông ta nói về những người ở cơ quan ông ta cũng như ở cơ quan khác. Giọng ông ta đầy vẻ đắc ý khi kể về mấy người bị công an bắt vì liên quan đến tham nhũng. Cái giọng ấy nghe như thể rằng ông ta là người "tử tế". Dẫu oang oang, nhưng sau đó là giọng tiếc thương khi nói về ông A, ông B nào đó đã từng chơi đẹp trong những phi vụ làm ăn với những người cùng hội cùng thuyền. Và cũng có cả giọng giận dữ khi ông ta nói về bà X, bà Y không biết điều trong những mối quan hệ cũng như trong công việc.

          Tôi cũng nghe ở bàn kia có những tiếng nói về chuyện mua bán nhà đất. Nào là miếng đất đó rẻ. Nào là mảnh đất kia khó bán vì anh em còn tranh chấp. Nào là chuyện bị lật kèo. Nói đến mua bán đất, tôi thực là may mắn. Tôi có sáu đứa em. Thế nhưng, Ba Mẹ tôi trước khi mất đã sang tên cho riêng tôi mảnh đất có nhà trên trăm rưỡi mét vuông. Ba Mẹ tôi chỉ để lại di nguyện cho tôi thực hiện. Bảy năm qua, tôi mong là thực hiện được di nguyện đó. Và tâm nguyện của tôi cũng được Ba Mẹ chấp nhận, Trời Phật thương tình. Tôi đã bán căn nhà và đất được suôn sẻ. Tôi mừng vui và các em tôi cũng mừng vui vì thực hiện được di nguyện của Ba Mẹ. Dù chúng tôi mừng vui nhưng lại ngậm ngùi. Ngậm ngùi vì Ba Mẹ tôi luôn dành tình yêu thương cho con cho cháu. Ngậm ngùi vì thấy mình chưa xứng đáng với tình yêu thương của Ba Mẹ. Ngậm ngùi cũng chẳng là chi khi Ba Mẹ không còn trên cõi đời.

          Nhìn ra đường, trước mắt tôi là những chiếc xe. Những chiếc xe chở khách du lịch chậm rãi tìm chỗ đậu. Những chiếc xe chở những đứa trẻ đến trường. Những chiếc xe chở hàng, những chiếc xe máy của những người trẻ là shipper. Và đằng kia là chiếc xe tang đang di quan. Tôi như thấy những chiếc xe đang chở niềm vui nỗi lo của kiếp người trong ngày mới.

          Và tôi nói lời tạm biệt với người bạn cùng bàn.

          Tôi dắt xe ra khỏi quán.

          Một ngày mới của tôi bắt đầu.

 

NHẤT CHI MAI - CHẤT NGƯỜI MUÔN THUỞ

NHẤT CHI MAI - CHẤT NGƯỜI MUÔN THUỞ

 

          Người, cũng là muôn loài trong cái thế giới ta bà, vẫn mang tứ khổ của cuộc đời, vẫn phải chịu bao cảnh trầm luân, vẫn phải nỗ lực tu tập để thoát khỏi luân hồi. Tôi cũng thế. Có lúc tôi chịu đớn đau, chịu bao phiền não. Tôi nào thoát được chốn trần gian đầy khổ ải.

          Đôi khi, vì cớ này cớ nọ, tôi tìm đọc những vần thơ Thiền. Và tôi bắt gặp bài kệ Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) của Thiền Sư Mãn Giác (1052 – 1096):

           Xuân khứ bách hoa lạc,

           Xuân đáo bách hoa khai.

           Sự trục nhãn tiền quá,

           Lão tòng đầu thượng lai.

           Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

           Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

           Xuân ruỗi, trăm hoa rụng,

           Xuân tới, trăm hoa cười.

           Trước mắt, việc đi mãi,

           Trên đầu, già đến rồi.

           Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

           Đêm qua, sân trước, một cành mai.

                                  (Ngô Tất Tố dịch)

                  Thơ Văn Lý – Trần, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1977

          Thiền sư nhìn sự vật trôi, với tâm định, định đến vô cùng, hòa nhập với chân như, nên tâm Ông rung lên tiếng thơ lòng thiền. Trước tự nhiên, tâm tự nhiên theo. Ông an nhiên theo vòng sinh hóa vũ trụ:

          Xuân khứ bách hoa lạc,

          Xuân đáo bách hoa khai.

          Tự nhiên là vậy. Xuân khứ rồi xuân đáo, hoa lạc rồi hoa khai. Có phải đó là quy luật sinh hóa? Có phải đó là quy luật thời gian?

          Nói về mùa xuân là để nói đến tứ mùa. Thời gian cứ trôi, kiếp làm người cũng như muôn loài phải mang chuyện sinh tử, phải chứng kiến những sự đời trôi qua trước mắt: Sự trục nhãn tiền quá. Sự đời trôi theo thời gian, mà thời gian lại trôi theo tâm, bởi tâm là con mắt huệ - mắt thiền. Đời trôi mà tâm định là cớ làm sao?

          Nhưng, làm người cũng có thể tâm định kia mà!

          Tâm định, nhưng thời gian vẫn cứ trôi. Và thế là cái lão vẫn cứ đến với con người.

          Đó là sự nghiệt ngã của tự nhiên dành cho con người. Cái già từ từ đến trên đầu: Lão tòng đầu thượng lai. Đọc câu thơ, tôi bỗng nhận ra một điều: trên đầu tôi tóc đã hóa trắng. Tôi đang đến già. Già vì biết, vì khổ não, phiền trược. Tôi già theo thời gian...

          Thời gian của vũ trụ, của ánh sáng thì vô cùng. Thời gian của đời người thì có hạn. Tôi nghe có ai đó nói bên tai tôi là, chỉ có vượt cái có hạn đế đến cái vô cùng mới có thể vượt qua vòng luân hồi của tử sinh - sinh tử.

          Và trong tôi như thấy giờ phút sắp viên tịch, chất thiền của Mãn Giác Thiền sư tỏa sáng bên các đệ tử:

          Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

          Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

          Dẫu hoa tàn khi xuân hết. Nhưng sức sống của thiên nhiên vẫn mãnh liệt. Trong cái tàn của hoa xuân lại ẩn hiện mầm sống của đất trời qua hình ảnh nhất chi mai. Thiền sư không nói hoa nở trước sân, nhưng tâm cảm một cành mai đang hấp thụ, chắt lọc tinh túy của đất trời để tồn tại trên cõi đời này. Cùng sự đồng cảm với Mãn Giác, Thiền sư Chân Không (1046 – 1100) nói về Diệu Đạo: Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận. Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân (Tạm dịch: Xuân đến xuân đi tưởng xuân hết. Hoa tàn hoa nở vẫn hoàn xuân).

          Tất cả cũng chỉ là sự sinh hóa của vũ trụ, sự tuần hoàn của Đại Ngã. Cảm nhận sự tuần hoàn ấy, hồn thơ của Mãn Giác đã định trước đổi thay, trước luân hồi của vạn vật. Không còn tứ khổ khi Nhà thơ Thiền mang bệnh lại nói nhất chi mai. Bởi vì Thiền sư đã an nhiên cái lẽ thường tình sinh tử: Sinh lão bệnh tử- Tự cổ thường nhiên (Diệu Nhân, 1041 – 1113).

          Cả bài kệ đầy chất thơ, từng câu từ đầu đến cuối đều có ý niệm thời gian. Tác giả dùng thời gian như là qui luật mà con người phải nhận lấy để làm Người, để khẳng định sự tồn tại của chất Người - nhất chi mai. Quả thật, ở Thiền sư, thời gian tịnh đến độ như không có gì để nói, như bản ngã người hòa với Đại Ngã Tự nhiên, như chân như của người, của Phật.

          Đọc Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư trong thời buổi này, tôi vẫn thấy nhất chi mai theo thời gian hấp thụ tinh khí thần của Nhật - Nguyệt - Tinh Đại Ngã để thành Người.

TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ

TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ

 

          Nắng hạ về ươm mật. Trên từng ngõ ban sơ hạnh ngân dài (Bùi Giáng), cùng những con phố ánh vàng rực rỡ, mặt người rạng rỡ hoan ca. Cờ ngũ sắc cùng Phật kỳ reo vui mở hội. Hội mừng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng trần.

          Dẫu là người ngoại đạo, nhưng ở tôi, thi thoảng cũng thích cơm chay. Có lúc cũng bập bẹ dăm ba câu chú, đọc ít kinh ít kệ. Cứ gọi là có chút tâm Phật - nếu Phật cho phép - ngộ được cái ngộ của Nguyễn Tiên Điền: Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Và cứ thế, chữ tâm ở chốn hồng trần đã giúp tôi mơ. Có lúc, tôi mơ thấy mình chắp tay như những Thanh Văn cung kính hầu Đức Phật, nghe Ngài thuyết pháp cõi người ta (chữ của Nguyễn Du). Cũng có lúc, tôi mơ về bến giác, được chu du cõi ta bà như trăng, như gió, như mây. Cũng có lúc, tôi vui mừng như thể được ánh đạo vàng. Tôi như là bằng hữu của mọi người; tôi như là anh em của chúng sinh. Tôi nghe lời của Đức Từ Phụ sáng ngời đạo lý TỪ, BI, HỶ, XẢ.

          Cũng có lúc đớn đau, có lúc bệnh tật, có lúc thất tình lục dục nổi lên. Tôi than khóc ở cõi đời này. Tôi đã kêu Trời Phật. Và Người như dỗ dành tôi, xoa dịu nỗi đau nhân thế. Tôi như mang cái nghiệp, cái duyên, cái nợ ở kiếp này. Và tôi chấp nhận vác những bụi trần như thể “trời sinh ra ta có ý”.

          Mỗi năm một lần, tôi cùng vợ con đi chốn Phật đường. Đó là giây phút giao thừa. Hương trầm lan toả không gian, ánh sáng diệu huyền như rửa sạch mọi nỗi ưu tư. Tôi cùng mọi người lễ bái, nguyện cầu trước huệ nhãn của Đức Từ Phụ. Tôi thấy ai cũng tử tế, cũng tâm bình an trong giây phút linh thiêng. Ai cũng tay bắt mặt mừng, lòng tràn hạnh phúc. Trong tiếng nhạc mừng xuân dịu nhẹ, tôi thấy Đức Phật trên đài sen vẫn trầm tư. Ngài vô ưu, vô tư lự?

          Và tháng Tư về. Vẫn linh thiêng như phút giao thừa! Vẫn ánh sáng viên diệu chốn trần gian! Hương lan, hương huệ thơm cả trời đêm. Tất cả các từng trời, các thế giới vang lên khúc nhạc hát mừng Đản Sinh.

          Tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kinh cầu như lời của chúng sinh dâng lên Đức Phật. Trên trời, trăng xanh trong như thể mang sự huyền diệu đến muôn dân, đến với thế gian luân hồi này.

          Tháng Tư huyền diệu tròn trăng. Tháng tư huyền diệu Đản Sinh. Huyền diệu cả đất trời hát mừng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Tròn trăng viên mãn tháng Tư. Tròn trăng hát mừng thế gian được ánh đạo vàng chỉ lối.

          Bất chợt, tôi nhớ đến bài thơ của Từ Đạo Hạnh :

          Tác hữu trần sa hữu,

          Vi không nhất thiết không.

          Hữu, không như thuỷ nguyệt,

          Vật trước hữu không không.

      Dịch thơ:

          Có thì có tự mảy may,

          Không thì cả thế gian này cũng không.

          Vừng trăng vằng vặc in sông,

          Chắc chi có có, không không mơ màng.

                                         (Huyền Quang dịch?)

          Đêm. Tôi ngước nhìn trời. Sáng trên trời trăng tháng Tư. Sáng trong tôi trăng tháng Tư. Cùng chư tôn Phật tử trên thế gian hát mừng Đức Phật, tôi cũng hát theo. Tôi hát mừng, hát nguyện cầu thế gian được an bình, được gặp điều viên diệu ở cõi trần.

          Trầm hương thơm cả đất trời. Ngời ngời trăng sáng tháng Tư. Đất trời thị hiện Đức Thế Tôn.

THẢO THƠM RẰM THÁNG BẢY

THẢO THƠM RẰM THÁNG BẢY

 

          Lâu rồi ý niệm của câu tục ngữ Rằm tháng Bảy, kẻ quảy người không vẫn cứ in sâu trong lòng tôi. Tôi vẫn còn nhớ lúc cuộc sống khốn khó, tôi đã từng nghĩ, ừ thì mình có thì mình có mâm lễ, còn không thì năm ba cây hương cũng được. Rồi cũng qua chuyện cúng kiến, lễ bái.

          Thế nhưng, trong tôi mãi vọng lên điệu kinh cầu về Rằm tháng Bảy. Đây là mùa báo hiếu của các Phật tử, của những người con đối với mẹ cha. Mục Kiền Liên là hiện thân của người con hiếu thảo. Trước tội lỗi của mẹ, Ngài có oán trách đâu. Chỉ có lòng nguyện cầu xin lượng hải hà vô biên của Bồ tát, cứu vớt linh hồn mẹ. Trong tôi cầu mong đạo hiếu của Mục Kiền Liên soi rọi tâm hồn mình để ứng xử với cha mẹ, tiên tổ, với những tiền nhân sao cho phải.

          Tôi cũng được biết thêm cách hiểu khác như là tâm niệm của nhân gian về Rằm tháng Bảy. Đó là dịp xá tội vong nhân. Không cần biết người đã mất là ai, là kẻ thế nào, chỉ biết đó là hồn oan của những người đã mất, những hồn tìm sự an bình trong sự cầu an của người trần thế. Tôi cũng từng nghe bà nội tôi kể chuyện cúng cô hồn Rằm tháng Bảy là cúng các hồn không nơi nương tựa, cúng hồn đói cái ăn - cái ăn bởi kinh bởi kệ. Người đã chết, dù có tội, ít ra đến Rằm tháng Bảy cũng được xá tội, mong được bình an nơi cõi phúc. Trước mắt tôi là những hồn ma vất vưởng xếp thành hàng. Họ đi, đi âm thầm, mong được xá tội. Trong tôi hiện lên những hình ảnh của những hồn trong “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du. Có thể họ là những kẻ đâm thuê chém mướn, cũng có thể họ là kẻ cướp vợ đoạt chồng kẻ khác, có khi họ dối dưới lừa trên, cũng có khi họ là kẻ có chức có quyền cướp đất cướp ruộng của dân. Cũng có khi, họ là kẻ tranh chức đoạt quyền, cũng có khi là kẻ buôn thần bán thánh... Nói chung, các hồn ma đều mong được ân xá. Trong tiếng cầu nguyện của người đang sống, trong trầm hương của Rằm tháng Bảy, tôi thấy các hồn ma như được hồi tâm. Họ thực sự ăn năn hối lỗi. Tôi như thấy các hồn đang nguyện xin được xá tội. Duy không thấy được hồn của những kẻ bán nước cầu vinh. Tôi chẳng thấy hồn của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ở đâu. Nghe đâu bọn chúng đang chịu hình phạt ở hoả ngục, phải “khóc lóc nghiến răng đời đời” (Kinh Thánh). Thảm thay! Tội nghiệp thay!

          Bất chợt trong tôi cũng hiện lên hình ảnh những con người thực ở cõi đời, họ cũng thiếu ăn, thiếu gạo, thiếu muối trong những ngày giáp hạt, trong những lúc bão lũ, thiên tai... Này đây là hình ảnh còm xương của bao trẻ, bao dân lành miền núi thèm hơi muối, chút cơm. Này đây là những bàn tay giơ ra đón nhận gói mì tôm, chai nước. Này đây là cái chết oan khiên khi qua con suối, bờ nương... Họ làm gì nên tội mà phải đói khổ ở cõi trần? Họ làm gì nên tội mà phải chịu thay cho tôi, cho bạn?

          Cũng về Rằm tháng Bảy, tôi quên làm sao được những lời của thầy tôi nói về thời cuộc, khi tôi học lớp 8 năm học 1969 - 1970 ở trường Đông Giang, rằng Rằm tháng Bảy là lễ giỗ những người chết trận. Lúc đó tôi lơ mơ hiểu rằng đã là người chết trận là phải được người đời sau làm lễ tưởng nhớ ghi ơn sự hy sinh của họ. Tôi nhớ lại lời kể của thầy, rằng, nước ta có thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Nhưng binh lính tử trận của cả hai bên đều được đời sau hương khói. Tôi nghe lời thầy, rằng như thế mới hợp đạo làm người. Rằng tiền nhân có lúc bất đồng ý kiến, có lúc gây gổ, đánh nhau vì quyền lợi nào đó, nhưng suy cho cùng, để dân phụng thờ tưởng nhớ, phải là người có công với dân tộc. Ai vì dân tộc đều được phụng thờ. Quân Trịnh, quân Nguyễn vì ai mà một thời đổ máu? Vì ai mà hy sinh? Vì ai mà chút xương tàn không tìm thấy? Hồn của các chiến sĩ hai bên có khác gì nhau trong và sau trận chiến? Hồn của họ có khác gì nhau trong ý niệm của thời gian, trong sự phán xét của người cùng thời, của hậu thế?

          Tôi bâng khuâng, như thấy trước mắt mình hồn của những chiến sĩ hai bên thuở nào cùng lặng im nghe lời khấn niệm của người đang sống, của kẻ cầm quyền, của người theo đạo này, tôn giáo nọ đang mong linh hồn của họ được siêu thoát. Các hồn như đang trò chuyện cùng nhau. Không có oán thù, không có tị hiềm, khích bác. Chỉ có sự hoà hợp của những hồn chiến sĩ năm nào. Chỉ có sự nguyện cầu cho đất nước an lạc.

          Bao nén hương lòng thắp trong Rằm tháng Bảy. Khói hương vẽ đường đi cho những hồn về nơi cực lạc. Khói hương mang lòng thành đến người đã khuất. Khói hương Rằm tháng Bảy thảo thơm hồn con dân Việt như là tấm lòng nguyện cầu an lạc đến cả thế gian.

LỜI THƯA

LỜI THƯA               Thưa các bạn!            Trời ban cho tôi đôi mắt chào đời. Mắt trong tôi lớn dần theo năm tháng. Theo thời g...