TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ


TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ

 

          Nắng hạ về ươm mật. Trên từng ngõ ban sơ hạnh ngân dài (Bùi Giáng), cùng những con phố ánh vàng rực rỡ, mặt người rạng rỡ hoan ca. Cờ ngũ sắc cùng Phật kỳ reo vui mở hội. Hội mừng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng trần.

          Dẫu là người ngoại đạo, nhưng ở tôi, thi thoảng cũng thích cơm chay. Có lúc cũng bập bẹ dăm ba câu chú, đọc ít kinh ít kệ. Cứ gọi là có chút tâm Phật - nếu Phật cho phép - ngộ được cái ngộ của Nguyễn Tiên Điền: Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Và cứ thế, chữ tâm ở chốn hồng trần đã giúp tôi mơ. Có lúc, tôi mơ thấy mình chắp tay như những Thanh Văn cung kính hầu Đức Phật, nghe Ngài thuyết pháp cõi người ta (chữ của Nguyễn Du). Cũng có lúc, tôi mơ về bến giác, được chu du cõi ta bà như trăng, như gió, như mây. Cũng có lúc, tôi vui mừng như thể được ánh đạo vàng. Tôi như là bằng hữu của mọi người; tôi như là anh em của chúng sinh. Tôi nghe lời của Đức Từ Phụ sáng ngời đạo lý TỪ, BI, HỶ, XẢ.

          Cũng có lúc đớn đau, có lúc bệnh tật, có lúc thất tình lục dục nổi lên. Tôi than khóc ở cõi đời này. Tôi đã kêu Trời Phật. Và Người như dỗ dành tôi, xoa dịu nỗi đau nhân thế. Tôi như mang cái nghiệp, cái duyên, cái nợ ở kiếp này. Và tôi chấp nhận vác những bụi trần như thể “trời sinh ra ta có ý”.

          Mỗi năm một lần, tôi cùng vợ con đi chốn Phật đường. Đó là giây phút giao thừa. Hương trầm lan toả không gian, ánh sáng diệu huyền như rửa sạch mọi nỗi ưu tư. Tôi cùng mọi người lễ bái, nguyện cầu trước huệ nhãn của Đức Từ Phụ. Tôi thấy ai cũng tử tế, cũng tâm bình an trong giây phút linh thiêng. Ai cũng tay bắt mặt mừng, lòng tràn hạnh phúc. Trong tiếng nhạc mừng xuân dịu nhẹ, tôi thấy Đức Phật trên đài sen vẫn trầm tư. Ngài vô ưu, vô tư lự?

          Và tháng Tư về. Vẫn linh thiêng như phút giao thừa! Vẫn ánh sáng viên diệu chốn trần gian! Hương lan, hương huệ thơm cả trời đêm. Tất cả các từng trời, các thế giới vang lên khúc nhạc hát mừng Đản Sinh.

          Tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kinh cầu như lời của chúng sinh dâng lên Đức Phật. Trên trời, trăng xanh trong như thể mang sự huyền diệu đến muôn dân, đến với thế gian luân hồi này.

          Tháng Tư huyền diệu tròn trăng. Tháng tư huyền diệu Đản Sinh. Huyền diệu cả đất trời hát mừng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Tròn trăng viên mãn tháng Tư. Tròn trăng hát mừng thế gian được ánh đạo vàng chỉ lối.

          Bất chợt, tôi nhớ đến bài thơ của Từ Đạo Hạnh :

          Tác hữu trần sa hữu,

          Vi không nhất thiết không.

          Hữu, không như thuỷ nguyệt,

          Vật trước hữu không không.

      Dịch thơ:

          Có thì có tự mảy may,

          Không thì cả thế gian này cũng không.

          Vừng trăng vằng vặc in sông,

          Chắc chi có có, không không mơ màng.

                                         (Huyền Quang dịch?)

          Đêm. Tôi ngước nhìn trời. Sáng trên trời trăng tháng Tư. Sáng trong tôi trăng tháng Tư. Cùng chư tôn Phật tử trên thế gian hát mừng Đức Phật, tôi cũng hát theo. Tôi hát mừng, hát nguyện cầu thế gian được an bình, được gặp điều viên diệu ở cõi trần.

          Trầm hương thơm cả đất trời. Ngời ngời trăng sáng tháng Tư. Đất trời thị hiện Đức Thế Tôn.

THẢO THƠM RẰM THÁNG BẢY


THẢO THƠM RẰM THÁNG BẢY

 

          Lâu rồi ý niệm của câu tục ngữ Rằm tháng Bảy, kẻ quảy người không vẫn cứ in sâu trong lòng tôi. Tôi vẫn còn nhớ lúc cuộc sống khốn khó, tôi đã từng nghĩ, ừ thì mình có thì mình có mâm lễ, còn không thì năm ba cây hương cũng được. Rồi cũng qua chuyện cúng kiến, lễ bái.

          Thế nhưng, trong tôi mãi vọng lên điệu kinh cầu về Rằm tháng Bảy. Đây là mùa báo hiếu của các Phật tử, của những người con đối với mẹ cha. Mục Kiền Liên là hiện thân của người con hiếu thảo. Trước tội lỗi của mẹ, Ngài có oán trách đâu. Chỉ có lòng nguyện cầu xin lượng hải hà vô biên của Bồ tát, cứu vớt linh hồn mẹ. Trong tôi cầu mong đạo hiếu của Mục Kiền Liên soi rọi tâm hồn mình để ứng xử với cha mẹ, tiên tổ, với những tiền nhân sao cho phải.

          Tôi cũng được biết thêm cách hiểu khác như là tâm niệm của nhân gian về Rằm tháng Bảy. Đó là dịp xá tội vong nhân. Không cần biết người đã mất là ai, là kẻ thế nào, chỉ biết đó là hồn oan của những người đã mất, những hồn tìm sự an bình trong sự cầu an của người trần thế. Tôi cũng từng nghe bà nội tôi kể chuyện cúng cô hồn Rằm tháng Bảy là cúng các hồn không nơi nương tựa, cúng hồn đói cái ăn - cái ăn bởi kinh bởi kệ. Người đã chết, dù có tội, ít ra đến Rằm tháng Bảy cũng được xá tội, mong được bình an nơi cõi phúc. Trước mắt tôi là những hồn ma vất vưởng xếp thành hàng. Họ đi, đi âm thầm, mong được xá tội. Trong tôi hiện lên những hình ảnh của những hồn trong “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du. Có thể họ là những kẻ đâm thuê chém mướn, cũng có thể họ là kẻ cướp vợ đoạt chồng kẻ khác, có khi họ dối dưới lừa trên, cũng có khi họ là kẻ có chức có quyền cướp đất cướp ruộng của dân. Cũng có khi, họ là kẻ tranh chức đoạt quyền, cũng có khi là kẻ buôn thần bán thánh... Nói chung, các hồn ma đều mong được ân xá. Trong tiếng cầu nguyện của người đang sống, trong trầm hương của Rằm tháng Bảy, tôi thấy các hồn ma như được hồi tâm. Họ thực sự ăn năn hối lỗi. Tôi như thấy các hồn đang nguyện xin được xá tội. Duy không thấy được hồn của những kẻ bán nước cầu vinh. Tôi chẳng thấy hồn của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ở đâu. Nghe đâu bọn chúng đang chịu hình phạt ở hoả ngục, phải “khóc lóc nghiến răng đời đời” (Kinh Thánh). Thảm thay! Tội nghiệp thay!

          Bất chợt trong tôi cũng hiện lên hình ảnh những con người thực ở cõi đời, họ cũng thiếu ăn, thiếu gạo, thiếu muối trong những ngày giáp hạt, trong những lúc bão lũ, thiên tai... Này đây là hình ảnh còm xương của bao trẻ, bao dân lành miền núi thèm hơi muối, chút cơm. Này đây là những bàn tay giơ ra đón nhận gói mì tôm, chai nước. Này đây là cái chết oan khiên khi qua con suối, bờ nương... Họ làm gì nên tội mà phải đói khổ ở cõi trần? Họ làm gì nên tội mà phải chịu thay cho tôi, cho bạn?

          Cũng về Rằm tháng Bảy, tôi quên làm sao được những lời của thầy tôi nói về thời cuộc, khi tôi học lớp 8 năm học 1969 - 1970 ở trường Đông Giang, rằng Rằm tháng Bảy là lễ giỗ những người chết trận. Lúc đó tôi lơ mơ hiểu rằng đã là người chết trận là phải được người đời sau làm lễ tưởng nhớ ghi ơn sự hy sinh của họ. Tôi nhớ lại lời kể của thầy, rằng, nước ta có thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Nhưng binh lính tử trận của cả hai bên đều được đời sau hương khói. Tôi nghe lời thầy, rằng như thế mới hợp đạo làm người. Rằng tiền nhân có lúc bất đồng ý kiến, có lúc gây gổ, đánh nhau vì quyền lợi nào đó, nhưng suy cho cùng, để dân phụng thờ tưởng nhớ, phải là người có công với dân tộc. Ai vì dân tộc đều được phụng thờ. Quân Trịnh, quân Nguyễn vì ai mà một thời đổ máu? Vì ai mà hy sinh? Vì ai mà chút xương tàn không tìm thấy? Hồn của các chiến sĩ hai bên có khác gì nhau trong và sau trận chiến? Hồn của họ có khác gì nhau trong ý niệm của thời gian, trong sự phán xét của người cùng thời, của hậu thế?

          Tôi bâng khuâng, như thấy trước mắt mình hồn của những chiến sĩ hai bên thuở nào cùng lặng im nghe lời khấn niệm của người đang sống, của kẻ cầm quyền, của người theo đạo này, tôn giáo nọ đang mong linh hồn của họ được siêu thoát. Các hồn như đang trò chuyện cùng nhau. Không có oán thù, không có tị hiềm, khích bác. Chỉ có sự hoà hợp của những hồn chiến sĩ năm nào. Chỉ có sự nguyện cầu cho đất nước an lạc.

          Bao nén hương lòng thắp trong Rằm tháng Bảy. Khói hương vẽ đường đi cho những hồn về nơi cực lạc. Khói hương mang lòng thành đến người đã khuất. Khói hương Rằm tháng Bảy thảo thơm hồn con dân Việt như là tấm lòng nguyện cầu an lạc đến cả thế gian.

VÀ MỖI LẦN NOEL ĐẾN


VÀ MỖI LẦN NOEL ĐẾN
        


          Cứ cuối tháng 11, đầu tháng 12, cái lạnh bắt đầu thấm trên từng cây lá, thấm vào những bàn tay, vào những nụ cười, tôi nghe được cái lạnh qua lời nói của mọi người: “Gần đến Noel rồi!”. Và tôi nghĩ về mùa Giáng Sinh với những cây thông gắn những món quà xinh xắn, nghĩ về truyện “Cô bé bán diêm” của Andersen. Tôi cảm thấy mình còn may mắn được sống trong sự đủ dùng như theo lời nguyện của người Kitô trước những bữa ăn. Dẫu tôi không theo đạo nào, nhưng tôi vẫn tin có Đại Ngã vô thường tồn tại cùng Tiểu Ngã của tôi.

          Nhớ năm học 1973 – 1974, tôi học lớp 12B3 trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tôi được học triết do thầy Huấn dạy. Dù tôi học ban B, thế nhưng cũng nhờ những khái niệm cơ bản về triết học, tôi nhìn nhận sự vật không chỉ duy tâm hoặc duy vật, duy lý hoặc duy tình. Môn triết là môn có thể là sở trường của tôi. Có lần, trong một giờ học, tôi đã giơ tay trình bày quan điểm non nớt, ngây ngô của mình: “Thưa thầy, theo lý thuyết thì bất cứ vật chất nào cũng bị nóng chảy ở nhiệt độ cao. Thế nhưng, mặt trời cũng là dạng vật chất, nóng đến hàng ngàn độ, nhưng sao nó chỉ có nóng mà không chảy?”. Tôi nhớ thầy không trả lời cụ thể, mà chỉ gợi cho tôi thấy rằng lý luận chỉ là lý luận. Cả thế giới vật chất này không chỉ có vật chất thuần tuý mà còn có sức mạnh vạn năng nào đó đang điều hành cả vũ trụ này. Lời thầy chỉ thoáng khơi gợi một điều gì đó trong tôi…

          Và mỗi lần Noel đến, tôi đều tự hỏi: Sao nhạc thánh có sức mạnh lôi cuốn, nhẹ nhàng, thánh khiết như vậy? Sao tiếng chuông nhà thờ làm rung chuyển sự tỉnh thức của mỗi tâm hồn đến vậy? Sao lời của Chúa hơn hai ngàn năm vẫn là sự thật? Tôi có dịp may là đọc những lời trong Kinh thánh, nhất là phần Tân ước. Sao Chúa yêu thương con người đến vậy, trong khi con người nhân danh con người lại mạt sát, bắt bớ, cầm tù, đâm chém, hành hạ lẫn nhau? Sao Chúa bao dung đến vậy, trong khi con người vẫn nuôi thù hận triền miên? Sao Chúa lại chữa lành những vết thương của người bệnh, trong khi con người gieo rắt những mầm diệt chủng, diệt sự sống ở trần gian này? Chúa vì ai mà yêu thương, bao dung, chữa lành con người? Vì ai? Vì ai?...

          Nghĩ đến Chúa, tôi lại nghĩ đến Darwin. Theo Darwin thì có thể thuỷ tổ của loài người là loài vượn – người. Nhưng mấy có ai, kể cả ông Darwin thờ vượn – người và gọi nó là ông tổ? Đã là thuyết thì mãi là thuyết! Có ai cho mình là giòng giống thấp hèn? Có ai cho mình là người dại? Có ai vẽ hình tượng vượn – người để thờ phụng đâu? Kiến thức của tôi có hạn, như cái sống có hạn của tôi ở cõi trần này, tôi không biết có tôn giáo nào, tín ngưỡng nào thờ vượn – người và tôn vinh nó không?

          Và mỗi lần Noel đến, tôi như thuộc lòng câu “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (có nơi cho là người thiện lương). Ngẫm đi ngẫm lại lời ca ấy sao thực tình, thực tế, gần gũi với con người đến vậy. Chỉ cần câu “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là thấy sướng cả bụng rồi! Cầu mong cuộc đời này, người thiện tâm được an bình là quý rồi. Nhưng cuộc đời này, chính con người đã gây ra bao tai hoạ, đã tự trút những cơn thịnh nộ của tham sân si thì làm gì có sự an bình cho chính mình và cho người khác. Thật là buồn! Buồn cho kiếp người không có bình an vì trót gây tội.

          Nói đến tội, tôi cũng là kẻ có tội ở trần gian này. Thấy cha mẹ già yếu mà không được chăm nom, phụng dưỡng hằng ngày là có tội. Thấy anh em nghèo khó mà không giúp được, vì mình chưa giúp được mình xong, cũng là tội. Thấy mình vì tiền mà chèn ép học trò đi học thêm để mình tồn tại cũng là có tội. Thấy học trò không chăm học, không học giỏi, cũng thấy mình có tội. Thấy con cái khổ cực mà chẳng giúp được, thấy con cái lớn rồi mà chẳng có công ăn việc làm ổn định, cũng là tội. Thấy việc phải mà không dám làm vì hèn, vì sợ cũng là tội. Cái tội nó đeo đuổi mình suốt kiếp.

          Biết bao cái tội của kiếp làm người. Nhiều lần, tôi làm điều gì sai trái, tôi cảm thấy mình cớ sao dại những một giờ như vậy? Cớ sao có lúc giận hờn? Cố chấp? Biết bao điều để tôi trở thành kẻ có tội ở thế gian này. Tôi lấy làm xấu hổ, ân hận vì những gì tôi gây nên tội. Bất chợt, trong tôi hiện lên bao gương mặt của những cô gái bán dâm nuôi miệng, đang lấy hai tay che mặt khi có người chụp ảnh, quay phim. Chắc các cô còn xấu hổ. Tôi cũng bất chợt thấy bao gương mặt của những kẻ có quyền, có thế khi gây nên tội vẫn nhơn nhơn cười đểu, lẻo mép chối tội như thách đố với người thiện tâm. Những việc ấy, những con người ấy, báo chí đăng trên những bản tin hằng ngày bên cạnh những tin tốt lành. Tin ác, tin dữ còn, tội đó do ai?

          Và Noel đến, bên tai tôi vẳng lên khúc nhạc mừng Thiên Chúa xuống trần, làm người để chịu kiếp người ở thế gian. Tôi như thấy cái chết của Thiên Chúa trong thân phận người mới làm cho con người đến với ánh sáng, đến với sự bình an. Và khúc nhạc “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” cứ vang lên trong lòng tôi, như vỗ về tôi, an ủi tôi những lúc tưởng như tôi bị sa ngã bởi bao ràng buộc ở cõi trần này.

          Trong tôi cũng vẳng lên lời bài hát như tránh móc, dỗi hờn của Trịnh Công Sơn: Chúa đã bỏ loài người – Phật đã bỏ loài người… Thế nhưng, mỗi lần Noel đến, tôi nhẩm hát theo những ca khúc Giáng Sinh. Tôi hát mà tin rằng Chúa Phật chẳng bỏ loài người. Chúa Phật vì loài người mà đến với thế gian này, đến để người bình an, để người được làm người thiện tâm, an bình dưới thế.

NGU NGƠ MỪNG CHÚA GIÁNG TRẦN



NGU NGƠ MỪNG CHÚA GIÁNG TRẦN

 

          Nhiều lần tôi tự hỏi tôi là ai, từ đâu đến và sẽ về đâu. Hỏi mà chẳng thể trả lời cho thỏa đáng. Quả là hỏi ngu ngơ và trả lời ngu ngơ. Lòng tôi ngổn ngang cho kiếp người trần thế.

          Tôi chào đời trong tiếng khóc của chính mình. Có lẽ trong cõi vô minh tôi khóc cho thân phận của mình, của con người cụ thể ở thế gian. Bởi ngày tôi chào đời là ngày tôi dấn thân vào cõi chết.

          Cõi chết của những thức ăn được chế biến trôi từ miệng xuống hậu môn, hoặc từ miệng chưa kịp nuốt lại nôn ra. Cõi chết của tiếng cười, tiếng khóc, tiếng rên. Cõi chết của tiếng nói chữ viết, của lời kinh, của tri thức.

         Tôi chào đời nghĩa là tôi đang đi vào cõi chết. Cõi chết của những con thiêu thân, của chồi nõn đón mùa xuân. Cõi chết của nụ hôn vội vàng mùa hạn, mùa bão giông. Cõi chết của những nghĩ suy ngu ngơ, của những nghĩ suy của Socrates, Plato, của những vú mông Bao Tự, Tây Thi, Thẩm Thúy Hằng, Lisa, Emilie Nereng, của những đạo đức thuyết giảng về thế giới đại đồng của tôn giáo, của chủ thuyết vô sản, về thuyết tương đối tổng quát của Einstein ...

          Tôi từ cõi chết đầu thai thở hơi thở của con người trần thế. Con người được Thích Ca chỉ theo hướng vầng trăng, vầng trăng khi mờ khi tỏ, vầng trăng của mồng một, đêm rằm; con người được Jesus gánh mọi tội lỗi, được cứu rỗi - con người được ân phước của ngày sau rốt.

          Tôi từ cõi chết trở về thấy mọi thứ trên cõi đời này chẳng là chi cả ngoài vòng quay luân hồi của vũ trụ, mọi thứ chỉ là thứ chi chi để rồi tôi phải chi chi cùng đời.

          Tôi từ cõi sống đi vào cõi chết. Từ cõi chết trở lại làm người. Và tôi mong được làm người đúng nghĩa.

          Tôi xin cảm ơn đất trời, cảm ơn giọt máu hoài thai của mẹ, cảm ơn linh khí của cha cho tôi thành người.

          Tôi sống để thấy là đang đi dần vào cõi chết. Và cõi chết là cõi sống của tôi ở tương lai. Và thời điểm nào đó, từ cõi chết tôi được sống lại, được thấy hào quang của ngày Chúa tái lâm, của ngày Di Lặc giáng thế.

          Ngày vui của nhân loại khi ngôi Hai xuống trần gánh tội lỗi của thế gian. Nhân loại từ cõi chết trở về cõi sống khi máu của Jesus rửa tội cho con người. Vui thay khi mọi người từ cõi chết trở về cõi sống. Vui thay khi tôi từ cõi chết, cõi vô minh trở về làm người trong hồng ân của Tạo Hóa.

          Dẫu biết ngày tôi chào đời là ngày tôi đi đến cõi chết. Nhưng tôi vẫn mừng vui vì lẽ sinh tử, tử sinh, Tôi nguyện cầu mừng vui vì bè bạn, anh em, người thân yêu được bình an dưới thế.

          Tôi đang tư duy nghĩa là tôi đang tồn tại như Renè Descartes đã từng nghĩ. Dẫu tôi đang nghĩ về cái chết nhưng không có nghĩa là tôi đang chết. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ chết nhưng có thể đó là thời điểm linh hồn tôi bắt đầu sống. Rõ là tôi ngu ngơ trong vòng tử sinh sinh tử vô thường của Tạo Hóa.

          Ngu ngơ trong những ngày chuẩn bị đón tin lành mừng Chúa giáng sinh để rồi vác thập tự gánh mọi tội lỗi của con người ở thế gian, trong đó có tôi.

          Nhiều lần, rất nhiều lần, tôi thuộc lòng câu nói nói của Chúa Jesus: Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha (Giăng 14:6). Biết là vậy, nhưng lòng tôi vẫn cứ phân vân bởi nghĩ suy ngu ngơ của chất người trần thế. Vẫn cứ nghĩ rằng cái vừa chết là sự sống bắt đầu.

          Thôi thì tự an ủi mình. Tôi đang sống đây nghĩa là tôi đang đi dần đến cõi chết. Và khi vào cõi chết, sự sống của tôi lại bắt đầu...


ÁO TRẮNG TRONG TÔI



ÁO TRẮNG TRONG TÔI

 

          Câu văn cũ có níu được thời gian để cho tôi tìm dòng sông Hàn vấn vương sắc trời cổ tích. Bến phà xưa đâu có còn để vương hương tóc Hà Thân trên con đường em đi học, để tôi tìm dấu chân ai trên cát vàng Đông Giang của tuổi học trò ngu ngơ một thuở.

          Tháng giao mùa cuối hạ đầu thu cho tôi tìm lại tháng ngày đi học. Tháng những ngày vui của tuổi học trò xếp lại theo những cánh phượng hồng chở những nhớ nhung, chở những mối tình câm thời áo trắng, để những bài thơ, câu hát đọng lại bên đời thành ký ức một thuở mộng mơ.

          Tôi như thấy tôi thuở nọ ngu ngơ. Tôi tìm thấy tôi một thuở dại khờ. Dại khờ quên trước, quên sau, quên mở đầu sao cho suôn sẻ. Tôi chỉ ấp úng chẳng nói thành lời. Để rồi đến tận bây giờ mới liều mình mở miệng. Mà mở miệng để làm gì khi chẳng hát được câu hát nào, mở miệng để làm gì khi chỉ thầm hát theo câu hát cũ: “Tóc mai sợi vắn sợi dài/ Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Rồi tôi thầm nghĩ ngàn năm sau em và tôi có gặp lại đâu để mà thương, để mà thấy mặt nhau, để mà trách cứ nhau, hoặc nghĩ về nhau cho lòng đủ ấm.

          Và tôi cũng ấm lòng khi biết em biết được tình tôi. Cũng an ủi cho tôi, một kẻ đến giờ vẫn cứ nghĩ về em, về những ngày học chung lớp. Những ngày chung lớp ấy, tôi làm sao quên được những lần em hát. Bài hát ngày xưa tôi không nhớ tên. Chỉ biết rằng khi em từ nước Mỹ trở về, em tặng tôi một dĩa CD có tiếng hát ấm giọng Nha Trang của em. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần. Trong tôi cứ vang lên lời ca “Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi”... Lời ca ấy là lời của lòng tôi em có biết?

          Lời ca ấy em hát và tôi nhẩm hát theo. Hát theo bao lần theo mùa, theo năm tháng. Mấy mùa học, mấy mùa thi, mấy mùa tựu trường trở thành dĩ vãng. Bao năm tháng tôi đi trên những chuyến phà qua lại sông Hàn, bao con đường có những tà áo dài trắng tinh khôi, bao con đường học trò cho tôi khôn lớn. Bao con đường tôi qua, bao kỷ niệm hoá thành gió, thành mây, thành nắng, thành mưa. Kỷ niệm trong tôi hoá già để em vẫn mãi tinh khôi thuở nọ. Và tôi cũng hoá già nhưng em mãi trẻ trong tôi.

          Em vẫn là em, áo trắng ngây thơ của một thời Đông Giang. Và em vẫn là em khi về lại trường xưa mang tên Hoàng Hoa Thám.

          Biết bao buồn vui trên đường đời tôi gặp, nhưng tôi không thể nào quên được những buồn vui của thuở học trò.

          Có khi tôi ngang qua trường cũ. Ánh mắt của ai ngày xưa thấp thoáng đâu đây. Và tôi như thấy những ánh mắt sáng và hiền trong tà áo trắng hôm nay. Vẫn như tôi và em thuở nọ, tiếng cười tuổi học trò vẫn trong trẻo dưới nắng vàng, vẫn khúc khích làm duyên trong giờ ra chơi, vẫn làm xao xuyến những cậu con trai vừa lớn.

          Như tôi và em thuở nọ, những ánh mắt hôm nay vẫn mở to chăm chú nghe lời thầy cô giảng dạy; vẫn khám phá cuộc đời ngoài vở sách, khao khát tương lai của tuổi học trò.

          Như tôi và em thuở ấy, những học trò hôm nay cũng có những lần thuyết trình văn học, những đợt hùng biện tiếng Anh, những cuộc thi học sinh giỏi, tham gia làm bích báo, diễn văn nghệ, cắm trại, dã ngoại... Chắc những thứ đó sẽ là những ký ức đẹp về một thời đi học thuở thư sinh.

          Như tôi và em thuở nọ, những con tim hôm nay vẫn đầy yêu thương trân quý bè bạn, thầy cô. Vẫn nhiệt huyết tràn đầy, miệng hát bài ca tuổi học trò mộng đẹp. Vẫn như tôi và em, và có lẽ hơn cả tôi và em, là thế hệ học trò hôm nay giỏi hơn chúng mình ngày ấy.

          Và tôi tin một điều là bao thế hệ học sinh của trường Đông Giang thuở ấy và Hoàng Hoa Thám ngày nay cũng như ngày mai cùng niềm tin yêu và khát vọng như nhau.

          Tôi như thấy mình là cậu học trò ngập ngừng bước vào trường năm học 1967- 1968. Và giờ, trong tôi rộn tiếng cười ngày hội ngộ. Tôi thấy cả một trời Đông Giang - Hoàng Hoa Thám đầy ắp tiếng nói, tiếng cười của bao thế hệ học sinh, của bao thầy cô giáo.

          Trước mắt tôi và trong tôi là ngôi trường tôi đã từng học. Ngôi trường một thời cho tôi biết bao thương nhớ. Ngôi trường đã cho tôi và biết bao thế hệ học sinh nên người.

          Trước mắt tôi là dáng hình của thầy cô giáo ngày nay, ngày xưa…

          Trước mắt tôi là những tà áo trắng. Áo trắng ngày nay. Áo trắng ngày xưa…


 

NHỮNG GÌ CÒN NHỚ TRONG TÔI



NHỮNG GÌ CÒN NHỚ TRONG TÔI

 

          Những cơn mưa bất chợt cho tôi nhớ lại những ngày mưa xưa ấy. Những ngày lên phà qua sông đến trường tìm kiến thức, đến trường để được thấy bạn bè, thầy cô, để được học làm người. Tôi làm sao quên được cái lạnh như tan biến, chút nước mưa cũng khô đi khi ngồi trong lớp học ấm tình bè bạn. Không biết ngày mưa xưa ấy có còn trên con đường Bạch Đằng, trên đường Hùng Vương, quanh chợ Vườn Hoa chứng kiến những cậu học trò bên Quận Ba vội vàng đến trường, vội vàng đi về cho kịp chuyến phà chòng chành trên sông Hàn một thuở.

          Một thuở được là học sinh của ngôi trường mang tên chí sĩ Phan Châu Trinh. Một thuở tôi tự hào được mặc bộ áo quần đồng phục trắng đi trên những con đường của Thị xã Đà Nẵng. Một thuở trong tôi nghĩ bọn con trai trường Phan Châu Trinh có thể là hình ảnh cho bọn con gái ở Nữ Trung học Hồng Đức, Phan Thanh Giản, Bồ Đề, Thánh Tâm, Sao Mai, Ánh Sáng, Bán Công, Nguyễn Hiền... để ý. Và trong tôi, cũng có thể là nhiều đứa con trai trong trường để ý đến bọn con gái, có lúc là cái đuôi theo tà áo dài trắng trên những cung đường của Thị xã. Tôi nhớ mãi cái thời chúng tôi thích bài hát Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy), nhớ mãi cái thời bao đứa con trai kế cho nhau nghe về những ánh mắt, nụ cười, sự dỗi hờn của bọn con gái. Nhiều lá thư viết muốn đưa cho ai đó mà chẳng dám đưa. Nhiều lời muốn nói với ai kia khi gặp mặt nhau mà chẳng dám nói. Nhiều thứ lắm muốn làm cho ai đó vui mà chẳng làm được. Để rồi, những mối tình lặng câm ấy trôi theo cùng năm tháng. Tưởng chừng nó chết theo thời gian. Nhưng rồi có khi trên đường đời gặp lại ánh mắt của người xưa, mối tình câm ấy hồi sinh. Hồi sinh nhưng trái tim của ai nấy giữ, bởi ai cũng biết phận mình. Trong lòng chỉ thầm hát lời ca "Tóc mai sợi vắn sợi dài/ Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm" (nhạc Phạm Duy).

          Rồi những ngày nắng đến. Nắng ấm sân trường tôi trong những sáng thứ Hai chào cờ đầu tuần. Nắng vào lớp học, vào từng con tim nhiệt thành trên từng trang sách. Nắng trên những thân thể bọn con trai trong những lần dự hội thao cùng các trường trong Thị xã. Nắng theo cùng quả bóng chuyền, bóng rổ trong tiếng cổ vũ của khán giả. Nắng làm bao cầu thủ đổ mồ hôi trong những pha tranh bóng, sút vào goal. Nắng cũng theo chúng tôi trong những lần dã ngoại ở Nam Ô, Mỹ Khê, Non Nước... Nắng trong tôi những ngày tháng vội vàng, những ngày tháng chỉ muốn nhớ kiến thức đã được học để chuẩn bị cho kỳ Tú tài với hình thức trắc nghiệm và được máy IBM chấm. Những ngày tháng ấy tôi cứ ngỡ như mới đây. Thế mà đã nửa trăm năm. Thế rồi thời thanh xuân của tôi và các bạn đã qua. Thế là thời bảy mươi của chúng tôi vừa chạm tới.

          Tôi nào quên được một buổi chiều dẫu là tình cờ. Tình cờ nghe cuộc gọi từ đâu xa lơ xa lắc. Và rồi ngỡ như mơ mà là thực. Đó là cuộc gọi của Hải Đà cho biết có mấy người bạn học hồi 12B3 từ Mỹ, Sài Gòn về, rất mong muốn gặp lại những bạn học thời trung học. Tôi vui đến không ngờ vì bạn tôi ngày ấy tìm ra số điện thoại của tôi và gọi cho tôi. Và kể từ đó, các bạn trong lớp chúng tôi tìm lại nhau. Rất vui và cảm ơn tấm chân tình của các bạn cùng lớp khi xưa, đặc biệt là hai bạn Đà, Mai. Có chuyện vui, buồn, chuyện đi thăm các thầy cô giáo cũ cũng nhờ tin từ Hải Đà. Ngôi nhà của Đà, Mai trở thành nơi tụ hội cho một số bạn của lớp khi có người từ xa về Đà Nẵng. Đâu phải là những món ăn đắc tiền, đâu phải cao lương mỹ vị, mà đó là những ổ bánh mì mua vội trên đường Phan Châu Trinh do Hồng Thúy mua chiêu đãi bạn bè một sáng hẹn cà phê ở nhà Đà, Mai. Đó là bữa cơm chay đạm bạc ở nhà Vân Anh. Và còn biết bao lần ăn uống ở những quán vỉa hè, vui cùng nhau nhân ngày hội ngộ.

          Mà tôi nào nhớ hết được những người bạn trong lớp tôi thuở nọ. Bởi tôi vào trường Phan Châu Trinh chỉ khi được chuyển từ trường Đông Giang ở Quận Ba sang. Từ nhà đến trường gần 5 km, do vậy, tôi vội vã đến trường, vội vã về nhà khi tan học. Vội vội vàng vàng nên chẳng mấy khi để ý đến các bạn khác.

          Nhiều khi đi trên đường Bạch Đằng vào lúc ban trưa, tôi lại nhớ những bữa trưa gặm bánh mì ngồi trên ghế đá dọc sông Hàn để buổi chiều học tiếp. Nhớ những lần ngồi nhìn con nước, mơ mộng về một thời áo trắng tinh khôi, mong về ngày mai không còn chiến tranh, không còn tiếng bom rơi, đạn lạc. Ngồi mà mộng mơ theo lời ca: "Em hãy cùng ta mơ/ Mơ một ngày đất Mẹ/ Ngày bóng dáng quê hương/ Đường hoa khô ráo lệ..." (Đôi Mắt Người Sơn Tây, thơ Quang Dũng, nhạc Phạm Đình Chương).

          Và tôi dễ gì quên những tháng ngày cặm cụi ôn bài để thi Tú tài. Những đêm mưa lạnh của những tháng trước và sau Tết Nguyên đán, tôi vẫn ngồi bên ngọn đèn vừa đủ sáng để ôn bài. Tôi không để ý giờ giấc, không để ý đến chung quanh. Chỉ biết học cho xong bài quên cả cái lạnh. Những đêm sắp đến ngày thi, dù nóng nực, đổ mồ hôi, kể cả những con muỗi bay quanh, tôi cũng vẫn cố công học. Thời điểm ấy, không chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả các bạn học lớp 12 trong lớp, trong trường đều gắng sức. Nếu bọn con trai rớt Tú tài thì thật là đáng tiếc. Tương lai, kể cả số phận có thể tùy thuộc vào kỳ thi này. Vì thế, tôi và các bạn đều cố gắng luyện rèn những kiến thức, làm quen những câu hỏi trắc nghiệm trong các môn học. Thời điểm đó, thi tất cả các môn được học: học môn nào, thì môn đó. Đến giờ nghĩ lại, quả là tôi được may và không uổng công khi đậu Tú tài. Và những kiến thức năm nào, theo thời gian, 50 năm, tôi chỉ còn nhớ lơ mơ những tên gọi đạo hàm, phép tịnh tiến, cos, sin, tang, cotang…

          Hầu như tôi chẳng nhớ được gì các tên bài học năm xưa.

          Chỉ còn trong tôi tên lớp, tên trường mà tôi từng học: lớp 12B3, trường Trung học Phan Châu Trinh.

 

HỒN BIỂN ĐÔNG



HỒN BIỂN ĐÔNG

 

          Hoàng Sa một thuở, chiếu chỉ vua ban ngàn hải lý; quê hương mênh mông nước bốn bề, xương cốt hùng binh dưới bể. Quê nhà cúng cơm!

          Hoàng Sa súng nổ, máu loang hờn căm; nghẹn uất ngấm ngầm bao năm. Đâu cọc Bạch Đằng đâm thuyền giặc? Đâu gò Đống Đa xác thù chôn?

          Trường Sa súng nổ vẫn giữ đảo, ôm cờ; là giữ, ôm hình Tổ quốc. Máu lính đỏ ngầu thấm Gạc-ma. Chập chờn hồn nương theo sóng; theo sóng vô bờ gọi Mẹ ơi, theo sóng kêu gào bớ Cha ơi!

          Giờ hiển hiện anh linh chiến sĩ ngạo nghễ giương cờ quyết hy sinh. Vẫn mắt gườm căm thù lũ giặc, theo sóng hóa triều hiển linh!

          Hiển linh có cả hồn ngư dân về biển theo Cha Lạc Long Quân. Về biển hồn vẫn theo Hoàng Sa; về biển hồn náu nương Trường Sa.

          Hồn ngư dân, hồn chiến sĩ đỏ hồng Biển Đông, xanh trời Biển Đông.


TÔI KHÔNG PHẢI NGƯỜI SÀI GÒN



TÔI KHÔNG PHẢI NGƯỜI SÀI GÒN

 

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Thương từ thuở tôi nghe Thái Thanh hát "Tình Ca" trên đài phát thanh.

          Thương từ thuở hàng tuần cứ mỗi chiều thứ ba tôi nghe Trần Văn Trạch hát về những con số đem ước mơ triệu phú.

          Thương những bước chân Gia Long, Trưng Vương, Văn Khoa, Vạn Hạnh trên những con đường làm xiêu hồn con trai xứ Quảng.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Thương ở đó có bà con, họ hàng tôi đang sống.

          Thương một thời con, cháu tôi trú học nhiễm tính Sài Gòn.

          Sài Gòn cưu mang mọi người phận khó.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Ở đó, những người bạn mến khách kiểu Sài Gòn khi tôi vào thăm, cùng vỗ đàn hát nhạc Phạm Duy; nghe bạn văn đọc thơ Tô Thùy Yên, Bùi Giáng...

          Và tôi rưng rưng tạm biệt Sài Gòn.

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Sài Gòn như thể lặng yên.

          Sài Gòn của bao phận người đang sống...

 

          Tôi không phải người Sài Gòn.

          Nhưng tôi thương Sài Gòn.

          Cũng chẳng biết vì sao tôi thương.


 

LỜI THƯA

LỜI THƯA               Thưa các bạn!            Trời ban cho tôi đôi mắt chào đời. Mắt trong tôi lớn dần theo năm tháng. Theo thời g...